Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Bất cứ ai cũng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình. Gia đình vừa là nơi đáp ứng nhu cầu riêng tư vừa thực hiện chức năng phát triển nòi giống vừa là trường học đầu tiên hình thành, phát triển nhân cách con người. Gia đình là một nhóm người sống chung và gắn bó với nhau bởi tình cảm, hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Trên cơ sở đó hình thành nên các mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình đối với nhau. Dựa vào các mối quan hệ đó, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ đối với nhau: bố mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái, con cháu có trách nhiệm hiếu thảo phụng dưỡng bố mẹ ông bà, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau. Pháp luật HN&GĐ điều chỉnh về các mối quan hệ cơ bản đó nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc bền vững.

2.1. Quan hệ giữa vợ và chồng

Quan hệ vợ chồng được công nhận khi nam nữ kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật dựa trên tinh thần tự nguyện của hai bên, đến với nhau bằng tình yêu và mong muốn được sống chung với nhau. Sự kết hôn hợp pháp đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng. Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ chồng bao gồm các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, được pháp luật bảo vệ và buộc các chủ thể phải thực hiện.

Khác với chế độ phong kiến, mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Vì vậy, Luật HN&GĐ điều chỉnh các quan hệ giữa vợ và chồng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ. Luật HN&GĐ 2014 quy định các nghĩa vụ giữa vợ và chồng vừa là nghĩa vụ pháp lý vừa là nghĩa vụ đạo đức.

2.1.1. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Quan hệ nhân thân của vợ chồng bao gồm quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng liên quan đến lợi ích tinh thần, phát sinh trên cơ sở kết hôn và tồn tại suốt trong thời kỳ hôn nhân, không phụ thuộc vào yếu tố tài sản, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho người khác. Các quyền và nghĩa vụ đó bao gồm cả tình yêu, sự hòa thuận, sự tôn trọng lẫn nhau, việc xử sự trong gia đình, quan hệ đối với cha mẹ, các con và những thành viên khác trong gia đình. Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ này nhằm bảo đảm thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tinh thần trong đời sống vợ chồng. Chính vì lẽ đó, khi điều chỉnh quan hệ này, thường kết hợp giữa các quy định của pháp luật với những quy tắc đạo đức và lẽ sống trong xã hội. Luật HN&GĐ 2014 đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ vợ chồng phải yêu thương, đùm bọc, chung sống, tôn trọng nhau trong các vấn đề của cuộc sống.

  • Bình đẳng giữa vợ và chồng Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Hiện nay, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được BLDS và Luật HN&GĐ 2014 điều chỉnh, Điều 40 BLDS 2005 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững”, Điều 19 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”. Quyền bình đẳng của vợ chồng được thể hiện trên mọi mặt thể hiện qua quyền lựa chọn nơi cư trú; việc nuôi dạy con; lựa chọn nghề nghiệp, học tập và tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đại diện cho nhau giữa vợ chồng; quyền yêu cầu ly hôn. Điều này hoàn toàn phù hợp với một xã hội văn minh và nhất là định hướng phát triển xã hội của nước ta là phát triển xã hội theo chế độ xã hội chủ nghĩa, mọi người đều bình đẳng với nhau, không có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà, không có sự phân biệt giữa các giai cấp…. Ngoài ra, quy định này cũng còn có một ý nghĩa rất quan trọng đó là đảm bảo sự công bằng giữa vợ và chồng, xóa bỏ quan điểm cổ hủ lạc hậu từ thời phong kiến đó là đàn ông thì có nhiều quyền hơn đàn bà, chồng có nhiều quyền hơn vợ, chồng thường là đối tượng được phục vụ và ngược lại, vợ là đối tượng phải phục vụ chồng [22; tr.20-34]

Quyền bình đẳng của vợ chồng được thể hiện qua quyền lựa chọn nơi cư trú (Điều 20 Luật HN&GĐ 2014). Nơi cư trú của vợ chồng về nguyên tắc do vợ chồng tự lựa chọn, việc lựa chọn nơi cư trú không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán, địa giới hành.Vợ chồng lựa chọn nơi cư trú hoàn toàn dựa vào hoàn cảnh thực tế, tính chất hoạt động nghề nghiệp, khả năng tài chính… Trong trường hợp vợ chồng vì lí do công việc mà không thể cùng lựa chọn một nơi cư trú thì họ hoàn toàn có thể tự lựa chọn nơi cư trú riêng mà không ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ với nhau và với gia đình. Người chồng hay người vợ đều không thể ép buộc nhau phải sống ở nhà vợ hay nhà chồng hay là một địa điểm khác. Để đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và điều kiện làm việc của mỗi bên thì vợ chồng bàn bạc, thoả thuận quyết định lựa chọn nơi cư trú. Quy định của pháp luật nhằm xoá bỏ những quan niệm, tập tục có tính chất bắt buộc chỗ ở chung của nam nữ sau khi kết hôn “thuyền theo lái, gái theo chồng” hoặc tục ở rể của một số dân tộc thiểu số, buộc vợ, chồng không có quyền lựa chọn nơi ở chung.

Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc nuôi dạy con: Điều 2 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội”. Do vậy, vợ chồng đều bình đẳng với nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con… tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường lành mạnh, yêu thương, tôn trọng ý kiến của con, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, quan tâm, chăm lo cho sự phát triển của con về cả thể chất lẫn tinh thần…

Đồng thời, vợ chồng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi họ không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trong việc chăm sóc, giáo dục con. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Quyền được lựa chọn nghề nghiệp, học tập và tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội: Dựa trên nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt theo Luật HN&GĐ 2014 và nguyên tắc nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, gia đình và xã hội. Việc vợ chồng được tự lựa chọn nghề nghiệp riêng cho bản thân là hoàn toàn chính đáng, nhằm xóa bỏ quan hệ bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại hiện nay, đồng thời việc học tập nâng cao trình độ không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân, do vậy vợ chồng cần có sự bình đẳng và không có sự ngăn cản nhau trong việc thực hiện quyền này. Quyền bình đẳng là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định rất rõ trong tất cả các Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong mọi quan hệ xã hội, bình đẳng thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau và trong quan hệ vợ chồng đều đó càng quan trọng hơn. Thời phong kiến ở các nước phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, phụ nữ không có tiếng nói ngoài xã hội và cả trong gia đình. Quan điểm trọng nam kinh nữ đã hình thành từ xa xưa thể hiện sự bất công đối với người phụ nữ, “tại gia phòng phụ, xuất giá phòng phu, phu tử phòng tử”người phụ nữ luôn phải nghe theo ý kiến của người con trai trong gia đình, không được phép có tự do bất cứ vấn đề gì. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng văn minh, những tập tục xưa cũ gần như được loại bỏ. Trong gia đình, người vợ và người chồng có vai trò, nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chia sẻ chăm lo cho gia đình hạnh phúc. Đặc biệt, Luật HN&GĐ 2014 đã có nhiều quy định mới đảm bảo bình đẳng giữa vợ và chồng trong nhiều mặt của cuộc sống: chỗ ở, con cái, công việc, tự do tín ngưỡng tự do tôn giáo… Những quy định góp phần tạo điều kiện xây dựng những gia đình hạnh phúc, bền vững, tạo thêm những tế bào “khỏe mạnh” cho xã hội.

  • Tình nghĩa vợ chồng

Hôn nhân là bến bờ hạnh phúc của tình yêu đôi lứa, đăng ký kết hôn là xác nhận việc tự nguyện sống chung, cùng nhau yêu thương chăm sóc lẫn nhau của người con trai và người con gái. Nền tảng của hôn nhân bền vững khi vợ chồng sống với nhau trọn tình trọn nghĩa. Tình nghĩa vợ chồng là tình thương yêu, chăm sóc, san sẻ với nhau giữa vợ và chồng trong cuộc sống hôn nhân. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Thứ nhất, yêu thương là điều tất yếu cần có trong tình yêu đôi lứa và càng quan trọng hơn nữa trong mỗi một gia đình. Khi tình yêu đến độ chín muồi để tiến tới hôn nhân, yêu thương không còn là trách nhiệm với nhau, đó còn là nghĩa vụ của vợ và chồng. Khoản 1 Điều 19 Luật HN&GĐ 2014 quy định vợ chồng phải có nghĩa vụ “chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” . Nam nữ đến với nhau, kết hôn với nhau hướng tới mục tiêu là xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Vì vậy, họ phải thực hiện những nghĩa vụ trên, nếu không thì có thể nói rằng gia đình sẽ khó mà tồn tại được. Khi đã trở thành vợ chồng thì tình cảm yêu thương đó cũng cần phải được duy trì thì mới có thể đảm bảo cho sự bền vững của cuộc hôn nhân giữa họ. Vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng phải có ý thức chăm lo cho gia đình, phải biết san sẻ mọi việc, giảm bớt gánh nặng cho nhau. Vợ chồng quan tâm chăm sóc cho nhau, chia sẻ với nhau những áp lực của cuộc sống, cùng nắm tay nhau vượt qua những thách thưc gian nan.

Thứ hai, vợ chồng chỉ cùng nhau đi đến cuối cuộc đời khi trọn vẹn tình thủy chung son sắt. Để giữ được tình vợ chồng son sắt mặn nồng, buộc vợ chồng phải chung sống dưới một mái nhà, vợ chăm lo cho chồng và chồng chiều chuộng chăm sóc đến vợ, người thứ ba không thể chen giữa và phá vỡ hạnh phúc của vợ chồng.

Nhưng trong một số trường hợp vì công việc hoặc hoàn cảnh, vợ và chồng có thể không sống chung, nhưng phải đảm bảo tình yêu thương son sắt dành cho nhau, luôn nghĩ về nhau. Khoản 2 Điều 19 Luật HN&GĐ quy định “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, học tập, công tác, tham gia các hoạt động chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc lý do chính đáng khác”. Quy định này nhằm nhằm tránh các trường hợp hôn nhân trên danh nghĩa để thực hiện mục đích trái pháp luật. Đồng thời, quy định thể hiện mong muốn được chăm sóc thương yêu san sẻ và đỡ đần nhau trong cuộc sống gia đình, cũng như gìn giữ được sự thủy chung vẹn toàn. Hạnh phúc gia đình sẽ luôn bền vững nếu vợ chồng một lòng một dạ thương yêu quan tâm đến nhau.

Mặt khác, pháp luật cũng có những quy định xử phạt khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ chung thủy, vi phạm nghĩa vụ một vợ một chồng trong hôn nhân. Theo Khoản 1, Điều 48 Nghị định 67/2015/NĐ-CP quy định: Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Trong trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 147 – Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ, chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”. Theo đó, nếu vợ chồng đã kết hôn (tức đăng ký kết hôn, tổ chức đám cưới, làm lễ hôn phối ở nhà thờ…) có hành vi chung sống với người khác gây hậu quả nghiêm trọng như: có con chung, người phụ nữ có hành vi tranh cướp chồng, người chồng đánh đập, ngược đãi vợ con mình,lấy tài sản chung của gia đình để mua sắm, chu cấp cho “bên kia”; nghe theo lời “vợ nhỏ” gây chia rẽ hạnh phúc, về thúc ép xin ly hôn vợ…) sẽ bị xử lý hình sự. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Quy định của pháp luật góp phần giữ gìn hạnh phúc hôn nhân, xây dựng gia đình ấm êm bền vững, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho vợ chồng thực hiện nghĩa vụ của mình và nghĩa vụ với con cái.

Thứ ba, vợ chồng luôn tôn trọng danh dự, nhân phẩn, chung sống hòa thuận với nhau, không được có hành vi đối xử ngược đãi giữa vợ và chồng. Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng lẫn nhau và cư xử với nhau một cách thanh lịch, văn minh. Pháp luật cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau , vợ chồng cũng không có quyền để cho người khác hành hạ, ngược đãi chồng vợ mình. Sự ngược đãi, hành hạ của một người đối với người còn lại, trong những trường hợp đặc thù, có thể bị chế tài về hình sự. Theo Luật HN&GĐ 2014 Điều 21 “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau”. Vợ chồng không được quyền đứng về phía người xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chồng vợ mình. Trong trường hợp thái độ cư xử của một người đối với người còn lại thể hiện sự xúc phạm nghiêm trọng đối với danh dự, nhân phẩm của người còn lại, người cư xử không đúng có thể bị chế tài về hình sự. Nếu vợ chồng là nạn nhân của một vụ xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thì chính nạn nhân là người có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và yêu cầu công khai xin lỗi, chồng vợ không có quyền yêu cầu thay, trừ trường hợp được nạn nhân uỷ quyền hợp lệ [4; tr.138 – 144]. Tuy nhiên, cũng như trong trường hợp vợ chồng bị xâm phạm về thân thể, chồng vợ của người bị xúc phạm về danh dự, nhân phẩm có thể tự mình khởi kiện, nếu cho rằng cũng chính hành vi xúc phạm đó làm tổn thương trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của riêng mình.

Tình nghĩa vợ chồng là tình cảm phù hợp với đạo lý. Làm vợ, chồng của nhau phải hiểu rõ và hành động theo tình cảm, bổn phận và nghĩa vụ của mình, và lợi ích của vợ, chồng và lợi ích của các con, lợi ích của gia đình. Quy định trên góp phần ngăn chăn hành vi đánh đập, xâm phạm thân thể nhân phẩm của nhau giữa vợ và chồng; ngăn chặn hành vi quan hệ ngoài hôn nhân của những người đang có vợ, có chồng. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây ảnh hưởng xấu đến đời sống gia đình và xã hội, cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn.

2.1.2. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Chế độ tài sản theo pháp luật

Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng. Chế độ tài sản này được tất cả các nước dự liệu trong hệ thống pháp luật của mình, nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản pháp định gồm tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

  • Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng

Thời kì hôn nhân đầu từ khi kết hôn tức là ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn- nơi thường trú của vợ hoặc chồng vào Sổ đăng kí kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai vợ chồng và chấm dứt khi một bên vợ chồng chết, hoặc vợ chồng ly hôn (từ khi phán quyết ly hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật). Như vậy mọi tài sản trong gia đình có được trong thời kì hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà không phụ thuộc vào khả năng trực tiếp tạo ra tài sản hay công sức đóng góp của mỗi bên . Việc xác định khối tài sản chung của vợ, chồng căn cứ vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân – quan hệ vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33, Luật HN&GĐ năm 2014

Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân. “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân” Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ 2014. Tài sản chung của vợ chồng có thể do công sức của cả hai vợ chồng tạo ra hoặc chỉ do vợ ( chồng) tạo ra trong thời kì hôn nhân, bằng cách trực tiếp (lao động sản xuất, tiền lương…) hoặc gián tiếp thông qua các giao dịch dân sự ( buôn bán, đầu tư tìm kiếm lợi nhuận..). Trong cuộc sống gia đình, vì sức khỏe, vì hoàn cảnh và khả năng lao động mà tài sản chỉ do một người tạo ra thì vẫn coi như vợ chồng cùng đóng góp công sức vào việc tạo lập khối tài sản chung. Trong lao động của người chồng đã bao hàm cả lao động của người vợ và ngược lại, bởi vì nếu như không có vợ hoặc chồng chăm lo cho gia đình, bảo quản tài sản, chăm sóc con cái tạo điều kiện cho người kia lao động tạo thu nhập thì khó có thể tạo ra được khối tài sản chung một cách trọn vẹn. Đó chính là đặc trưng mang tính chất cộng đồng của cuộc sống vợ chồng. Ngoài ra, Căn cứ quy định tại Điều 9, Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ 2014, bao gồm: Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp; Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước. Tất cả các tài sản đó được xem là tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Thứ hai, hai vợ chồng sống chung với nhau dưới một mái ấm gia đình thì những tài sản được hưởng từ thừa kế chung hoặc tặng cho chung đều là tài sản chung của vợ và chồng. Đơn cử như vợ chồng sống chung cùng với bố mẹ, sau khi bố mẹ mất để lại quyền thừa kế tài sản cho vợ chồng thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Thứ ba, tài sản mà hai vợ chồng thỏa thuận. Tài sản mà vợ, chồng có được từ trước khi đăng ký kết hôn nhưng vợ, chồng đồng ý đưa tài sản đó vào tài sản chung của vợ chồng. Chẳng hạn như trước khi kết hôn người chồng có mua một mảnh đất đứng tên riêng người chồng, sau khi kết hôn người chồng tiến hành làm sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng. Việc đồng ý làm sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng đồng nghĩa với việc người chồng đã chấp nhận gộp tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Thứ tư, Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn” (Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ 2014). Điều này được hiểu là quyền sử dụng đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì đều là tài sản chung và cả vợ và chồng sẽ là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó, điều này đồng nghĩa với việc khi thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất này thì phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Trên thực tế người chồng thường nắm giữ tài sản trong gia đình và thường đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, cũng xuất phát từ quyền có tài sản riêng của vợ chồng, luật pháp cũng quy định trong trường hợp này, quyền sử dụng đất tuy được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng vẫn thuộc tài sản riêng của vợ chồng. Trường hợp đó vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Bởi trong thực tế có nhiều trường hợp bố mẹ của vợ hoặc chồng muốn cho con ruột của mình mà không muốn cho con dâu/con rể được hưởng tài sản của mình hay ngược lại… Có thể thấy rằng đây cũng là một việc hoàn toàn phù hợp với đạo đức xã hội, pháp luật, đảm bảo quyền tự do định đoạt tài sản của chủ sở hữu, ý chí, mong muốn chủ quan của người cho tặng tài sản, người để lại di chúc nên việc quy định như vậy là hợp lý và hợp tình. Điều này cũng là nhằm tôn trọng công sức đóng góp của nhau trong quá trình xây dựng kinh tế gia đình.Vì vậy, việc quy định quyền sử dụng đất đai có được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa bảo đảm sự bình đẳng giữa vợ và chồng.

Có thể thấy mọi tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nếu các bên không có thỏa thuận nào khác thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng cho dù tài sản đó là do ai tạo ra. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Nghĩa là vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung. Hai vợ chồng dù có người tạo ra thu nhập, người không tạo ra thu nhập thì đều bình đẳng trong việc sử dụng tài sản chung. Quy định này là để đảm bảo cho việc hai vợ chồng luôn tôn trọng nhau, tránh sự phân biệt giữa người làm ra thu nhập và người ở nhà, không làm có thu nhập, bảo vệ người vợ ở nhà chăm sóc gia đình, không tạo ra thu nhập, và để chống lại quan điểm người làm ra tiền có quyền tiêu nhiều tiền còn người làm ra ít tiền hoặc không làm ra tiền thì có ít hoặc không có quyền tiêu nhiều, tạo ra sự công bằng giữa vợ chồng [4; tr.145-162] Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng với tài sản chung

Để cụ thể hóa về thực hiện nội dung quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất như trên, luật HN&GĐ 2014 quy định việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng nếu đối tượng của giao dịch là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Vợ chồng phải cùng chịu trách nhiệm với giao dịch mà vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập. Trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó, thỏa thuận này phải bằng văn bản.

Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, nhưng Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định rất cụ thể về vấn đề này. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ 2014 quy đinh: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vợ chồng dùng tài sản chung để xây dựng nhà cửa, mua sắm trang thiết bị cũng như chăm lo săn sóc cho con cái; Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập. Nghĩa là vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về việc thế chấp hay cầm cố tài sản chung vì mục đích xây dưng gia đình hoặc mục đích khác không trái với pháp luật. Ngoài ra, vợ chồng còn có nghĩa vụ khác đối với tài sản chung,cụ thể: nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản hoặc để tọa ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của BLDS thì cha mẹ phải bồi thường; nghĩa vụ khác theo quy định của các luật khác có liên quan. Quy định này ghi nhận việc tạo lập và sự đóng góp công sức của mỗi bên trong các hoạt động làm nên khối tài sản chung của vợ chồng [36;tr.43-51]. Quy định này vừa để cho vợ chồng đều có trách nhiệm chăm lo sản xuất,tạo thu nhập phát triển đời sống gia đình và đề cao mối quan hệ tình cảm gắn bó giữa vợ và chống. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Việc quy định về tài sản chung và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung gắn với mục đích xây dựng gia đình, nhằm tôn trọng công sức đóng góp của nhau trong quá trình phát triển kinh tế gia đình. Bên cạnh đó còn góp phần ngăn chặn hiện tượng hôn nhân nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và có ý nghĩa quan trọng trong việc định đoạt tài sản. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản được pháp luật ta đặc biệt chú trọng, tạo điều kiện, căn cứ để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là người phụ nữ, giúp cho hạnh phúc gia đình được duy trì.

  • Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại nhu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hiện nay rất phổ biến, tạo điều kiện thuận lợi để hai bên có cơ hội phát triển và độc lập về tài sản. Pháp luật điều chỉnh hành vi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm hỗ trợ các cặp vợ chồng được chủ động hơn trong khối tài sản của mình. Theo đó, theo quy định tại Điều 38 Luật HN&GĐ 2014 trong thời kỳ hôn nhân việc chia tài sản chung của vợ chồng được xác định như sau:

Vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất NLHVDS hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ như nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại [13; tr.105-157]. Nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện theo thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ chồng có tài sản riêng làm vốn đầu tư. Mặt khác, quy đinh này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, đảm bảo cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình, tránh những ảnh hưởng tiêu cực do hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra. Trong cơ chế kinh tế mở như hiện nay, quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng vừa cho phép chủ thể tự chủ, tự quyết trong làm ăn vừa ổn định đời sống gia đình. Trong trường hợp vợ hoặc chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ đẻ thực hiện nghĩa vụ đó thì việc chia tài sản chung giúp cho cá nhân người đó thực hiện được nghĩa vụ của mình. Quy định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thể hiện sự tôn trọng quyền tự do định đoạt, tự do thỏa thuận tài sản của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân. Theo đó, các bên có quyền tự định đoạt đối với khối tài sản của mình trong trường hợp không muốn bị ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Tài sản riêng của vợ hoặc chồng

Quyền có tài sản riêng là một trong những quyền con người, không ai, nhà nước nào có thể làm mất đi quyền đó. Đối với vợ chồng, dù họ có mối quan hệ rất thân thiết nhưng họ vẫn có quyền có tài sản riêng, không phụ thuộc vào chồng, hay bất kỳ ai khác.

Luật HN&GĐ 2014 kế thừa và cụ thể hóa Điều 16 của HN&GĐ năm 1986; Điều 32, 33 Luật HN&GĐ 2000, quy định cụ thể về xác lập tài sản riêng của vợ chồng, bao gồm: Tài sản mà vợ chồng có từ trước kết hôn, tài sản được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được chuyển đổi, chuyển nhượng từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, những tài sản mà vợ chồng được chia từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ chồng. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 40). Một số nội dung này đã được hướng dẫn và nêu chi tiết trong Nghị định 126/2014/NĐ-CP: Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình. Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình (Điều 10).

Liên quan đến vấn đề chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, Luật HN&GĐ 2014 cũng quy định rõ hơn so với Luật HN&GĐ năm 2000. Quy định Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản trong các trường hợp: Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn, nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại Khoản 4 Điều 37 của Luật HN&GĐ 2014, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình, nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Những quy định về việc ghi nhận quyền có tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng trong luật HN&GĐ Việt Nam là sự tôn trọng quyền sở hữu cá nhân của công dân nói chung và vợ chồng nói riêng. Bên cạnh đó, còn thể hiện sự tôn trọng sự độc lập của vợ chồng trong việc tham gia vào các mối quan hệ xã hội khác ngoài hôn nhân và gia đình đồng thời khẳng định một cách nhất quán trong việc tiếp cận về bình đẳng giới xét về cả mặt lý luận và thực tiễn của việc ghi nhận pháp luật trong cuộc sống. Đồng thời, những quy định cũng nhằm mục đích xây dựng gia đình bền vững và ổn định về kinh tế, đảm bảo lợi ích chung của gia đình cũng như các thành viên trong nhà. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Chuyển hóa tài sản chung thành tài sản riêng và ngược lại

Chuyển hóa từ tài sản chung sang tài sản riêng: Trường hợp này xảy ra khi vợ chồng thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Hai bên có thể thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung thành tài sản riêng theo quy định tại Điều 38 Luật HN&GĐ 2014. Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo luật định. Trong trường hợp hai bên không thể thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Kể từ thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản, hoặc là ngày lập văn bản hoặc việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định hoặc ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc chia tài sản chung chính thức có hiệu lực. Kể từ thời điểm này, phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng này thì quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Pháp luật quy định việc chuyển hóa tài sản từ tài sản chung sang tài sản riêng hoặc ngược lại nhằm hỗ trợ cá nhân vợ hoặc chồng trong quá trình dùng tài sản để đầu tư kinh doanh. Mặt khác, mục đích việc chuyển hóa góp phần ổn định kinh tế gia đình, xây dựng một mái ấm gia đình hạnh phúc, tránh nguy cơ tranh chấp tài sản không cần thiết.

  • Chế độ tài sản theo thỏa thuận

Trải qua gần 15 năm thực hiện, Luật HN&GĐ năm 2000 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội Việt Nam hiện nay. Do đó nhằm bắt kịp xu hướng và giải quyết các mong muốn, nguyện vọng chính đáng của vợ chồng, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (hay còn gọi là hôn ước) đã được ghi nhận: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận…” (Khoản 1 Điều 28).

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là hai vợ chồng có quyền thỏa thuận, xác lập chế độ tài sản của vợ chồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực được xác lập trước khi kết hôn và có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn (Điều 47). Nội dung văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng gồm: Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan, tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình, điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản (Điều 48). Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Chế độ tài theo thỏa thuận của vợ chồng phải dựa trên những nguyên tắc chung. Thứ nhất, vợ – chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Việc quy định như vậy không làm ảnh hưởng tới tính chất của quan hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của gia đình. Bên cạnh đó còn góp phần ngăn chặn hiện tượng hôn nhân nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và có ý nghĩa quan trọng trong việc định đoạt tài sản. Thứ hai, vợ – chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng phải đảm bảo nguồn thu nhập cũng như ổn định kinh tế để xây dựng hạnh phúc gia đình, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hằng ngày của gia đình. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên. Thứ ba,việc thực hiện quyền nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường. Các nguyên tắc này áp dụng cho cả các chế định tài sản theo luật định. Việc bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng sẽ giúp các cặp vợ chồng có thêm sự lựa chọn trong việc xác định quan hệ tài sản trong hôn nhân. Quy định này thể hiện sự tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng mà không ảnh hưởng đến lợi ích của từng thành viên trong gia đình [10; tr.7-10]

Thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận là một sự thay đổi lớn về tư tưởng lập pháp của Nhà nước ta. Các nhà lập pháp cho rằng: việc áp đặt một chế độ tài sản trong hôn nhân cho tất cả các cặp vợ chồng là cứng nhắc, không đáp ứng được nhu cầu của một số cặp vợ chồng muốn thực hiện một chế độ tài sản phù hợp với tình trạng kinh tế của họ và gia đình. Quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 không đảm bảo quyền tự định đoạt của người có tài sản được quy định trong Hiến Pháp và BLDS. Nhiều Bộ, ngành địa phương đã có ý kiến cho rằng việc lập thỏa thuận về tài sản trước hôn nhân là cần thiết, là cách ứng xử công bằng và tiến bộ, giúp giảm thiểu xung đột và tiết kiệm được án phí tranh tụng trong trường hợp ly hôn. Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều quy định về các chế độ tài sản của vợ chồng khác nhau (chế độ tài sản theo luật định và chế độ tài sản theo thỏa thuận)…. Vì vậy, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được Luật HN&GĐ năm 2014 thừa nhận song song với chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ 2014. Các quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền tối cao về định đoạt tài sản của vợ chồng; công khai minh bạch về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Mặt khác còn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người khác có liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng. Quy định về chế độ tài sản theo thỏa thuận đảm bảo phù hợp với nguyên tắc tự thỏa thuận và định đoạt của pháp luật dân sự, đảm bảo phù hợp với tình hình mới trong quan hệ hôn nhân với nhu cầu ngày càng cao trong việc chủ động đầu tư, sản xuất kinh doanh để phát triển tài sản của bản thân và gia đình. Đây cũng được xem là giải pháp hữu hiệu cho việc phân định và bảo vệ tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng trong điều kiện mà khối tài sản có trước hôn nhân của các cặp vợ chồng ngày càng tăng. Hơn thế nữa, quy định góp phần giữ vững tính cộng đồng của hôn nhân, để đảm bảo cho lợi ích chung của gia đình, của con cái, xây dựng gia đình ấm êm hạnh phúc. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Tóm lại, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định vợ, chồng có thể tự do thỏa thuận các nội dung của chế độ tài sản theo thỏa thuận xoay quanh vấn đề quan hệ sở hữu tài sản. Mặc dù vợ chồng được tôn trọng quyền tự do thỏa thuận nội dung của chế độ tài sản theo thỏa thuận nhưng vẫn phải tuân thủ các quy định chung về chế độ tài sản giữa vợ chồng như các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng, quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình và người có liên quan… nhằm đảm bảo việc thỏa thuận của vợ chồng đúng quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho người khác..

2.1.3. Quyền đại diện giữa vợ và chồng

Theo Khoản 1 Điều 139 BLDS 2015 “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”. Đại diện có ý nghĩa rất lớn trong mọi mặt của đời sống xã hội và trong nhiều mối quan hệ, trong đó có vấn đề đại diện cho nhau giữa vợ và chồng trong các giao dịch dân sự và kinh doanh theo Luật HN&GĐ. Quan hệ vợ chồng là một quan hệ đặc biệt nhưng lại phổ biến trong đời sống xã hội mỗi quốc gia. Gia đình chính kết quả của việc vợ và chồng xây dựng nên với những mục đích riêng, đó là xây dựng mối quan hệ bền vững trong gia đình, giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái. Vợ và chồng cùng nhau tạo dựng và thực hiện các chức năng: kinh tế, sinh đẻ và giáo dục con cái và phát sinh những quan hệ đặc biệt cả về mặt tình cảm, luật pháp và xã hội. Ý chí của vợ chồng trong nhiều trường hợp là điều kiện có hiệu lực của một số quan hệ pháp luật nhất định, quyết định của người này đòi hỏi phải có sự thống nhất của người kia và ngược lại. Do đó, đại diện giữa vợ và chồng là một vấn đề cần thiết được đặt ra trong các giao dịch dân sự và kinh doanh, bảo đảm lợi ích của cả hai bên, quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể thứ ba trong các giao dịch đó.

  • Đại diện theo pháp luật giữa vợ – chồng Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Có thể hiểu đại diện giữa vợ và chồng là việc một bên vợ hoặc chồng nhân danh cả hai người để tham gia các quan hệ theo quy định của pháp luật hoặc pháp luật quy định cần phải có sự thỏa thuận của vợ chồng nhưng người còn lại không trực tiếp tham gia các giao dịch đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và bên thứ ba liên quan. Theo các quy định của BLDS năm 2015, Khoản 3 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2014 “Vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên mất NLHVDS mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan”. Việc quy định về đại diện trong trường hợp này, cụ thể như sau:

  • Đại diện theo pháp luật khi một bên mất NLHVDS

Theo quy định tại Điều 22 BLDS 2015 người được xem là mất NLHVDS “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất NLHVDS trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”. Như vậy, người vợ hoặc người chồng đương nhiên sẽ là người giám hộ cho người chồng hoặc vợ của mình khi thỏa mãn điều kiện được quy định trong pháp luật dân sự.

Với tư cách là người giám hộ thì vợ hoặc chồng là đại diện đương nhiên cho chồng hoặc vợ mình bị mất năng lực hành vi sẽ có nhiều quyền và nghĩa vụ hơn khi làm đại diện. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 53 BLDS 2015 “Trường hợp vợ là người mất NLHVDS thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ”. Người giám hộ có các quyền và nghĩa vụ đối với người được giám hộ như: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám, quản lý tài sản của người được giám hộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Các quy định này của người giám hộ mặc dù là rộng hơn đối với các quy định về đại diện đương nhiên của vợ và chồng khi một bên mất năng lực hành vi dân sự nhưng lại là không thật cần thiết bởi các nghĩa vụ này đã mặc nhiên được công nhận khi hai người trở thành vợ chồng. Vợ chồng có nghĩa vụ “thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau” (Điều 19 Luật HN&GĐ 2014). Hơn nữa tài sản cần được quản lý phần lớn là tài sản chung của vợ chồng, nếu là tài sản riêng của người bị mất năng lực hành vi thì người còn lại đương nhiên được quyền quản lý. Nên trong trường hợp này có thể khẳng định đại diện giữa vợ và chồng theo Luật HN&GĐ và chế định giám hộ trong luật dân sự khi người bị mất năng lực hành vi là như nhau về quyền và nghĩa vụ. Việc sử dụng tài sản của người được giám hộ cũng chính là tài sản của người giám hộ, nên việc sử dụng tài sản sẽ luôn đúng mục đích. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải đảm bảo lợi ích của người có tài sản, người giám hộ sử dụng tài sản của người được giám hộ phải vì phục vụ lợi ích của người được giảm hộ đối. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Đại diện theo pháp luật khi một bên bị hạn chế NLHVDS

Theo Khoản 1 Điều 24 BLDS 2015 quy định “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện”. Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Toà án quyết định. Khi vợ hoặc chồng là người đại diện được Tòa án chỉ định cho người bị hạn chế năng lực hành vi thì người đại diện chỉ được xác lập các giao dịch trong phạm vi đại diện. Tính đương nhiên được đại diện cho nhau giữa vợ và chồng không còn trong trường hợp này và nếu muốn là người đại diện cho nhau thì vợ hoặc chồng phải được sự chỉ định của Tòa án. Đối với vợ hoặc chồng mất NLHVDS, mọi giao dịch dân sự của họ đều do người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện. Nhưng trong trường hợp vợ hoặc chồng bị hạn chế NLHVDS, để tránh việc phá tán tài sản của gia đình thì chỉ những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị mới phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hằng ngày [10; tr.7-10].

Việc đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp một bên mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện. Bên cạnh đó, quy định về đại diện trong hôn nhân giữa vợ và chồng còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của người còn lại khi người kia bị mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nghĩa vụ phải chăm sóc, yêu thương, chia sẻ với người vợ, người chồng những khó khăn trong cuộc sống, đảm bảo cho hạnh phúc gia đình luôn bền vững.

2.1.3.2 Đại diện theo ủy quyền giữa vợ chồng

Đại diện theo ủy quyền là việc đại diện cho nhau giữa hai vợ chồng được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, xác lập trên cơ sở sự ủy quyền giữa vợ và chồng với nhau. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trong đó, nêu rõ phạm vi đại diện, những giao dịch được xác lập, thực hiện. Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi được ủy quyền ghi trong văn bản. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Theo khoản 2 điều 24 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “vợ chồng có thẻ ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng”. Việc ủy quyền phải tuân thủ các quy định về đại diện theo ủy quyền của pháp luật dân sự Việt Nam quy định Khoản 1, Điều 142 BLDS 2015.

Phạm vi đại diện giữa vợ và chồng không nhất thiết được quy định rõ ràng như đại diện cho các chủ thể khác. Việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch liên quan đến định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định thì sự thỏa thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực…). Sau khi đưa tài sản riêng vào sử dụng chung có phát sinh hoa lợi, lợi tức là nguồn sống duy nhất của gia đình thì theo quy định của pháp luật việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến loại tài sản này được phải có sự thỏa thuận của vợ chồng.

  • Đại diện giữa vợ và chồng liên quan đến tài sản và các giao dịch dân sự

Khi tham gia xác lập thực hiện các giao dịch dân sự mà pháp luật quy định giao dịch đó phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng thông qua sự thoả thuận, cùng ký vào văn bản giao dịch (như bán các tài sản chung có giá trị lớn: nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất…). Trong trường hợp vợ hoặc chồng ở xa hoặc không trực tiếp tham gia thì có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự đối với các giao dịch mà theo quy định phải có sự đồng ý của cả vợ chồng. Việc uỷ quyền phải lập thành văn bản để xây dựng rõ phạm vi uỷ quyền. Điều 26 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “1.Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này; 2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi”. Theo quy định tại Điều 32 Luật HN&GĐ 2014, nếu vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán, chiếm hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó. Cũng theo quy định tại Điều 35 Luật HN&GĐ, việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng có trường hợp là: “Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”. Ví dụ gia đình đó có một khoản tiền lớn gửi trong ngân hàng, đứng tên một bên vợ hoặc chồng, lãi từ tiền gửi hiện đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Người đứng tên trên tài khoản tự mình xác lập giao dịch được coi là trường hợp giao dịch với người thứ ba ngay tình (hợp đồng mua bán vẫn có hiệu lực) hay trường hợp phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (khi đó, hợp đồng mua bán sẽ bị vô hiệu). Trong trường hợp động sản có đăng ký quyền sở hữu khi định đoạt phải có sự đồng ý bằng văn bản của vợ, chồng. Ví dụ một gia đình có nhiều vàng, đá quý có giá trị lớn, phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Một bên đưa ra giao dịch với bên thứ ba, thì căn cứ theo quy định của Điều 32 nêu trên, giao dịch đó có hiệu lực khi có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Những chế định đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ tài sản, quan hệ kinh doanh hay các giao dịch dân sự, góp phần làm minh bạch vấn đề tài chính của gia đình, giúp ổn định kinh tế gia đình, tránh những xích mích mẫu thuẫn. Bên cạnh đó, chế định còn bảo đảm quyền và lợi ích của người thứ ba.

Việc đại diện giữa vợ và chồng là một quan hệ xã hội đã có từ lâu, truyền thống trong đời sống xã hội của chúng ta. Đây là một biện pháp hỗ trợ hữu ích để thực hiện một cách tốt nhất năng lực pháp luật của các chủ thể nói chung và vợ và chồng nói riêng. Khi được pháp luật điều chỉnh, đại diện giữa vợ và chồng không còn là những việc làm thay, làm hộ đơn thuần được điều chỉnh bằng các quy phạm đạo đức nữa mà đã chuyển sang một có chế điều chỉnh mới đó là một chế định pháp lý trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Có thể nói, quyền đại diện giữa vợ chồng là một trong những quyền phản ánh cao nhất bình đẳng giữa vợ và chồng. Đại diện sẽ là phương thức pháp lý cần thiết trong việc thực hiện các quyền này của chủ sở hữu tài sản trong gia đình, đảm bảo cho mọi giao dịch dân sự hợp pháp được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi.

Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được pháp luật công nhận và bảo vệ, vợ chồng đều có quyền đại diện cho nhau và đại diện cho gia đình theo pháp luật và theo ủy quyền. Người vợ trong gia đình có quyền đại diện trong các quan hệ HN&GĐ không bị phân biệt với người chồng. Việc vợ, chồng đại diện cho nhau và cho gia đình trong các giao dịch dân sự ngày càng phổ biến, đa dạng trong các hoạt động kinh doanh, mua bán, trao đổi, cho vay, bảo lãnh…liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, hoặc có thể liên quan đến tài sản riêng của vợ hoặc chồng, thể hiện trách nhiệm của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân. Xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích chung của gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng thì việc đặt ra vấn đề đại diện là vô cùng cần thiết, như vậy tránh việc các giao lưu dân sự giữa vợ chồng với người thứ ba bị gián đoạn, hạn chế, tránh sự kìm hãm sự phát triển chung của xã hội. Mặt khác, chế định đại diện giữa vợ và chồng nhằm đảm bảo lợi ích tài sản của gia đình, lợi ích của các thành viên trong gia đình và xây dựng phát triển gia đình.

2.2. Quan hệ giữa cha, mẹ và con Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

2.2.1 Cơ sở phát sinh quan hệ giữa cha, mẹ và con

Gia đình là tế bào của xã hội, tại đó tồn tại mối quan hệ ruột thịt và tình thương, gắn bó các chủ thể một cách thường xuyên, lâu dài, thậm chí suốt cả đời người về tình cảm và nghĩa vụ. Trong các mối quan hệ đó, mối quan hệ giữa cha mẹ và con được duy trì lâu bền nhất do yếu tố huyết thống, tình cảm chi phối. Quan hệ cha, mẹ, con xác lập sẽ được pháp luật và cộng đồng thừa nhận, là cơ sở để thực hiện tốt những quy định về nghĩa vụ và quyền nhân thân và nghĩa vụ tài sản giữa cha, mẹ và con . Bên cạnh đó quan hệ cha, mẹ và con là điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con và của con đối với cha, mẹ. Khi có tranh chấp xảy ra giữa các thành viên trong gia đình thì việc xác định mối quan hệ này sẽ là cơ sở để giải quyết tranh chấp.

  • Xác định quan hệ cha mẹ – con dựa trên sự kiện sinh đẻ

Trong đời sống xã hội, về nguyên tắc việc một người phụ nữ sinh con, cho dù là kết quả của hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp với một người đàn ông là cơ sở làm phát sinh quan hệ giữa cha mẹ và con. Đó là mối liên hệ huyết thống tự nhiên theo quy luật sinh học. Quan hệ cha mẹ con phát sinh không phụ thuộc vào hôn nhân của cha mẹ là hợp pháp hay không hợp pháp. Từ đây sẽ phát sinh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản trong quan hệ mẹ con, cha con. Đồng thời nó còn là cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết các tranh chấp về việc xác định quan hệ cha mẹ con trong thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cha mẹ con. Ví dụ: các tranh chấp về nuôi dưỡng, cấp dưỡng, thừa kế giữa cha mẹ và con, cũng như các thành viên khác trong gia đình được bảo đảm bằng pháp luật khi quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con được xác lập.

Đối với trường hợp sinh con tự nhiên, người sinh con ra đương nhiên được coi là người mẹ của đứa con. Đối với việc xác định người cha trong trường hợp sinh con trong giá thú thì con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng [13; tr.152-158]. Điều này có thể hiểu rằng cho dù con có được thành thai trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng thì bằng phương pháp suy đoán, người chồng đương nhiên được xác định là cha của đứa trẻ, trừ trường hợp người chồng có ý kiến khác. Ngoài ra, trong thực tế người vợ có thể mang thai già ngày nên pháp luật cũng có quy định: con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 88 Luật HN&GĐ 2014. Như trên đã trình bày thì thời điểm chấm dứt hôn nhân ở đây được hiểu là thời điểm bản án, quyết định của Tòa án về việc ly hôn của vợ chồng có hiệu lực hoặc kể từ thời điểm người cha chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Trên thực tế có nhiều trường hợp hai vợ chồng ly thân một thời gian dài trước khi bản án, quyết định ly hôn chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên trong vòng 300 ngày sau khi hôn nhân chấm dứt mà người vợ sinh con thì theo quy định trên người chồng vẫn được coi là cha của đứa bé do người vợ sinh ra. Đối với trường hợp sinh con ngoài giá thú thì con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. Trong nhiều trường hợp quan hệ hôn nhân đang tồn tại, nhưng một bên chồng nghi ngờ người vợ không chung thủy nên ngoại tình và đứa con đó không phải là con mình thì phải đưa các chứng cứ chứng minh trước tòa án (có căn cứ khoa học xác định bị bất lực sinh lý, trong thời gian có thể thụ thai người vợ đang đảm nhận trách nhiệm đặc biệt liên quan an ninh quốc phòng…) nếu người chồng không chứng minh được thì được xác định là con chung của vợ chồng và người vợ không có nghĩa vụ chứng minh. Trong trường hợp người cha không nhận con thì nó là con riêng của vợ và sau này, người con có quyền yêu cầu Tòa án xác định một người là cha mình khi có chứng cứ chứng minh. Khi người cha không nhận con thì phải có chứng cứ chứng minh rằng người con đó không phải là con của mình mà là con của một người khác. Việc quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha cho con là phù hợp với thực tế đời sống vợ chồng, đảm bảo ổn định các mối quan hệ cơ bản trong gia đình và trách nhiệm của người cha đối với con.

  • Xác định quan hệ cha mẹ – con trong trường hợp sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Thiên chức làm cha làm mẹ là một điều ao ước và khát khao của các cặp vợ chồng. Nhưng cũng có những người phụ nữ vì lý do sức khỏe mà không thể mang thai và sinh con theo quy luật tự nhiên. Pháp luật đã quy định khung pháp lý cho việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Người con được sinh ra có thể mang huyết thống của cả cha và mẹ hoặc chỉ mang huyết thống của một trong hai người. Vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học là vấn đề khá phức tạp, đặc biệt trong lĩnh vực pháp lý. Việc xác định cha, mẹ cho con sinh ra bằng phương pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định cụ thể trong Luật HN&GĐ Việt Nam. Đối với trường hợp vợ chồng sử dụng noãn và tinh trùng của hai người để thực hiện việc sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, thì đứa trẻ sinh ra sẽ chính là con của họ. Đối với trường hợp, vợ chồng thực hiện việc sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà phải sử dụng noãn hoặc tinh trùng hoặc phôi của người khác, thì việc xác định cha, mẹ cho đứa trẻ sinh ra, như sau: Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân; Người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân sinh ra đứa trẻ do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định là cha, mẹ đối với trẻ được sinh ra. Như vậy, trường hợp hai vợ chồng (nhận tinh trùng, hoặc nhận noãn) để thực hiện sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản, thì đứa trẻ phải được sinh được xác định là con của họ. Pháp luật không công nhận người cho tinh trùng, hoặc cho noãn là cha, mẹ của đứa trẻ.

  • Khái niệm mang thai hộ

Việc mang thai hộ được hiểu là dùng biện pháp kỹ thuật lấy trứng của người vợ và tinh trùng của người chồng thụ tinh trong ông nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ khác nhờ người đó mang thai hộ.

Khoản 22 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại mang thai giúp cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi người vợ đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Việc mang thai hộ được thực hiện bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Xác định mối quan hệ cha, mẹ – con trong trường hợp mang thai hộ

Theo quy định tại Điều 94 Luật HN&GĐ 2014: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”. Theo đó, vợ chồng mang thai hộ sau khi hoàn tất thủ tục giao con cho vợ chồng nhờ mang thai hộ, thì người con sinh ra không có quan hệ gì với vợ chồng mang thai hộ. Cha mẹ của người con là cặp vợ chồng dùng noãn và tinh trùng của mình để nhờ người khác mang thai giúp. Mọi quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con trong trường hợp con sinh ra nhờ kỹ thuật mang thai hộ hoàn toàn tương tự như con sinh ra dựa trên sinh để tự nhiên.

  • Quyền nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Theo quy định tại khoản 1 Điều 97 Luật HN&GĐ 2014: “Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ”. Người được nhờ mang thai hộ và chồng của người đó chỉ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc nuôi dưỡng con, còn những quyền và nghĩa vụ khác giữa cha mẹ đối với con như quyền đại diện cho con, quyền quản lý tài sản của con hay quyền thừa kế tài sản của con… thì không phát sinh giữa người được nhờ mang thai hộ và chồng của người đó đối với con. Thời điểm điểm chấm dứt quyền, nghĩa vụ chăm sóc con tính từ lúc giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ, từ đây, quyền, nghĩa vụ chăm sóc con như cha mẹ của cặp vợ chồng mang thai hộ cũng chấm dứt. Quy định thể hiện sự hợp lý, tính nhân văn, đảm bảo tốt về sức khỏe cho những đứa trẻ vừa được sinh ra, tránh những trường hợp bên nhờ mang thai hộ không quan tâm chăm sóc vì cho đó không phải là con đẻ của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt cho đứa trẻ, hoặc ngược lại bên nhờ mang thai hộ ngăn cản việc chăm sóc sức khỏe cho đứa trẻ từ phía người được nhờ mang thai dù người này có đủ các điều kiện tốt.

Khoản 5 Điều 98 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng có quy định: “Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con cho thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con”. Quy định nhằm tránh các trường hợp người được nhờ mang thai hộ không đồng ý nhận con vì những lý do khác nhau, ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng và chăm sóc đứa trẻ.

  • Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Quy định này là rất phù hợp và cần thiết. Bởi lẽ, người mẹ nhờ mang thai hộ cũng giống như trường hợp người mẹ nhận con nuôi. Tuy không trực tiếp sinh ra đứa trẻ nhưng việc quan tâm, chăm sóc trẻ là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của họ. Việc làm này là cần thiết đối với các bên trong quan hệ mang thai hộ mà còn là đối với đứa trẻ. Thời điểm bên mang thai hộ giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên nên không thể giống nhau trong mọi trường hợp. Có trường hợp hai bên giao trẻ ngay sau khi trẻ được sinh ra có trường hợp phải sau một thời gian nhất định để đảm bảo sức khỏe cho đứa trẻ. Vì vậy, việc người nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ sáu tháng tuổi sẽ giúp người nhờ mang thai hộ nhận con sớm và có thời gian quan tâm chăm sóc con chu đáo.

Vợ chồng nhờ mang thai hộ sẽ có quyền và nghĩa vụ nhận trẻ ngay khi trẻ vừa được sinh ra theo quy định tại Điều 98 khoản 3 Luật HN&GĐ 2014. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con, không nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật HN&GĐ, nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường theo thỏa thuận.Quy định như vậy nhằm phòng tránh trường hợp đứa trẻ sinh ra không đúng như mong muốn của vợ chồng nhờ mang thai hộ như trẻ bị dị tật, đứa trẻ không được khỏe mạnh thì họ cũng được phép lấy lí do này để từ chối việc nhận con. Đây là nghĩa vụ ràng buộc bên nhờ mang thai hộ với đứa trẻ sinh ra. Đồng thời nghĩa vụ này cũng giúp cho người mang thai hộ có tâm lý thoải mái trong suốt quá trình mang thai hộ hoặc làm cho người mang thai hộ không nảy sinh ý định chiếm đoạt đứa trẻ.

  • Quan hệ cha mẹ – con dựa trên việc nhận nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội, một chế định đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt nam và các nước trên thế giới. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, dựa trên ý chí tình cảm của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi.

Theo Luật Nuôi con nuôi 2010, người nuôi phải có đầy đủ năng lực hành vi, có tư cách đạo đức tốt, có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi, phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Người nhận nuôi con không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình. Luật chỉ đòi hỏi rằng ở một thời điểm nhất định nào đó, một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng. Bởi vậy, một người đã từng là con nuôi của một người hoặc của cả hai vợ chồng vẫn có thể là con nuôi của một người khác hoặc của cả hai người khác là vợ chồng, sau khi quan hệ nuôi con nuôi trước đây chấm dứt. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Theo Điều 3 Luật Nuôi con nuôi khoản 24 Điều 3 thì: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký”. Khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập thì con nuôi trở thành thành viên gia đình người nhận con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi: cha mẹ có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; con có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe lời khuyên bảo của cha mẹ. Trong trường hợp cha mẹ nuôi chết, con nuôi là ngườì thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất của cha mẹ nuôi; ngược lại, nếu con nuôi chết, thì cha mẹ nuôi là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của con nuôi, bên cạnh cha mẹ ruột của con nuôi. Về quan hệ giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi. Theo như quy định tại Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Do đó, quan hệ giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cũng như con đẻ, không có sự phân biệt anh, chị em, cô dì, chú, bác, ông bà giữa con nuôi và con đẻ. Quy định này tạo điều kiện cho đứa trẻ được nhận nuôi cảm nhận được sự gắn bó với các thành viên khác trong gia đình, tránh cảm giác tự ti, mặc cảm. Hơn nữa, quy định góp phần ổn định tâm lý trẻ, đảm bảo trẻ phát triển bình thường về thể chất lẫn tâm hồn. [13;tr.133 – 150].

Nuôi con nhằm mục đích gắn bó, xác lập quan hệ gia đình giữa cha nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trong môi trường gia đình, hay nói cách khác là tạo cho trẻ em “một mái ấm gia đình’’ để phát triển hài hòa thể chất và nhân cách.

2.2.2. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ – con Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con

Theo Điều 69 Luật HNHĐ 2014 thì cha mẹ có nghĩa vụ và quyền sau:

  1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
  2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên , con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  3. Giám hộ ho ặc đại diện theo quy định của B ộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
  4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất NLHVDS hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Nghĩa vụ và quyền yêu thương, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con là nghĩa vụ và quyền chung của cha mẹ. Nghĩa vụ và quyền này mang tính chất tự nhiên, là quyền cao quý và thiêng liêng của cha mẹ, được thể hiện qua hành vi, cử chỉ, tình cảm, thái độ đối với con. Nghĩa vụ này không chỉ đối với con chưa thành niên, mà con đã thành niên nhưng có nhược điểm về thể chất và tâm thần thì cha mẹ vẫn còn nghĩa vụ đối với con theo quy định của pháp luật. Cha mẹ có nghĩa vụ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất NLHVDS, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ giáo dục con, giáo dục ở đây được hiểu tập hợp các biện pháp mà cha mẹ có nghĩa vụ và quyền để thực hiện cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của con về trí tuệ, tài năng, đạo đức, nhân cách sống và hướng nghiệp cho con. Chẳng hạn như cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận, cha mẹ chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập, cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề, cha mẹ có thể nhờ cơ quan hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con, cha mẹ làm tấm gương tốt cho con về mọi mặt để con học tập và noi theo. Việc giáo dục con không chỉ thực hiện trực tiếp là cha mẹ giáo dục con cái mà còn được thể hiện thông qua cha mẹ chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Ngoài việc yêu thương, chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng con thì cha mẹ cũng là người có quyền và nghĩa vụ bảo vệ lợi ích hợp pháp của con. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất NLHVDS, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật. Cha mẹ là người có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất NLHVDS gây ra. Trong trường hợp này, tuy từng trường hợp cha mẹ có thể là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Cha mẹ cũng là người quản lý và định đoạt tài sản riêng của con theo quy định của pháp luật. Pháp luật hiện hành cho phép cha mẹ quản lý tài sản của con dưới mười lăm tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, pháp luật cũng cho phép cha mẹ quản lý tài sản của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên [39].

Ngoài ra, theo quy định thì cha mẹ còn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con khi không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Điều này thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái của mình. Cha mẹ cũng không được phân biệt các con mà đều phải yêu thương đùm bọc, chăm sóc các con như nhau, tránh tình trạng “trọng nam khinh nữ”. Việc làm này sẽ giúp các con được bình đẳng với nhau và cảm nhận được tình thương yêu của cha mẹ đối với mình. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Theo quy định của BLDS thì cha mẹ còn có quyền được nhận di sản thừa kế của con khi con chết trước cha mẹ. Ngoài ra, luật còn đưa ra quyền và nghĩa vụ giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng như: khi sống cùng nhau thì vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người cha, người mẹ ruột đối với con. Trong trường hợp có quan hệ nuôi dưỡng giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng thì cha dượng, mẹ kế còn có quyền được nhận di sản của con riêng khi con riêng chết trước (Điều 654 BLDS 2015)

2.2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ

Ca dao Việt Nam có câu: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” để răn dạy chúng ta về công lao nuôi thành dưỡng giục của cha mẹ là vô cùng lớn lao. Vì vậy, con cái phải có nghĩa vụ hiếu thảo, chăm sóc phụng dưỡng cho cha mẹ. Bởi đó, pháp luật có quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của con cái với đấng sinh thành tại Điều 70 Luật HN&GĐ 2014. Theo đó, con phải yêu quý, kính trọng, biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ. Yêu quý, kính trọng, biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ không chỉ là nghĩa vụ và quyền của con mà còn là bổn phận của con đối với cha mẹ. Đây là nghĩa vụ và quyền tự nhiên của con, nghĩa vụ và quyền này là truyền thống tốt đẹp được lưu giữ trong mỗi gia đình Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Pháp luật hiện hành nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ. Nếu người con thực hiện việc ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ thì theo quan điểm người Việt thì đây là một trong hai đại tội “nhất bất trung, nhì bất hiếu” sẽ bị xã hội lên án gay gắt. Con có nghĩa vụ nghe lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, gìn giữ truyền thống, danh dự gia đình. Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trong trường hợp con định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ. Điều này cho thấy vai trò của cha mẹ đối với con chưa thành niên, con phải lắng nghe lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Ở đây phải hiểu lời khuyên bảo của cha mẹ phải đúng đắn, truyền thống gia đình phải phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội.

Con phải có nghĩa vụ và quyền nuôi dưỡng cha mẹ. Nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ đã có từ lâu đời trong truyền thống người Việt Nam, là sự đền đáp một phần công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Khi con từ đủ mười lăm tuổi trở lên còn sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Luật lao động cho phép người từ đủ mười lăm tuổi trở lên được tham gia lao động và ký hợp đồng lao động, khi con tham gia lao động thì có nghĩa vụ đóng góp vào nhu cầu thiết yếu chung của gia đình, có thu nhập được hiểu là không nhất thiết tham gia lao động mà có thể có thu nhập khác. Ngoài quy định bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng không được ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau thì pháp luật hiện hành quy định con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình. Quy định này không chỉ ngăn cản hành vi xâm phạm giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế với nhau mà còn quy định trách nhiệm của con riêng khi sống chung với bố dượng, mẹ kế.

Cha, mẹ và con là những đối tượng có mối quan hệ khăng khít, xét về mặt đạo đức thì con cũng có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho cha mẹ khi con đã thành niên không sống chung, cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Điều này chính là biểu hiện của sự báo hiếu, kính trọng, trả ơn cho những người đã nuôi dưỡng, giáo dục mình để mình có được như ngày hôm nay. Tuy nhiên trên thực tế thì có nhiều trường hợp người con có hiếu vẫn biếu cha mẹ những khoản tiền hàng tháng hoặc có những hành động báo hiếu khác và ngược lại, trên thực tế vẫn có rất nhiều trường hợp con bất hiếu, không những không cấp dưỡng cho cha mẹ mà còn đánh đập, bắt ba mẹ phải kiếm tiền để mình ăn chơi. Những hành vi này cần phải được lên án và pháp luật xử lý nghiêm minh. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

  • Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con dâu, con rể, giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng

Theo quy định tại Điều 80 Luật HN&GĐ 2014: Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau. Do đó, con dâu, con rể, con riêng của vợ hoặc chồng cũng được xem là con cái trong gia đình. Người làm cha làm mẹ phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, dạy bảo con dâu, con rể, con riêng của vợ hoặc chồng. Ngược lại, con dâu, con rể, con riêng có nghĩa vụ hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ. Hiện nay ở nước ta mô hình gia đình ba thế hệ đang rất phổ biến từ thành thị đến vùng nông thôn. Với mô hình gia đình kiểu này thì một người con dâu sống chung với bố mẹ, ông bà chồng, thậm chí cả với anh, chị, em, cháu của chồng là điều rất phổ biến hiện nay. Theo quan điểm truyền thống thì con dâu có nghĩa vụ chăm sóc cho gia đình nhà chồng, con dâu không chỉ có chăm lo về mặt kinh tế mà còn cả về mặt tinh thần. Theo truyền thống thì con dâu thay chồng để phụng dưỡng cha mẹ cho chồng yên tâm công tác, gánh vác những trọng trách khác của xã hội giao phó. Trong xã hội hiện nay cũng ghi nhận nhiều người con dâu vẫn sống chung với bố mẹ chồng ngay cả khi chồng đã chết để phụng dưỡng, chăm sóc bố mẹ chồng khi tuổi già sức yếu. Ngược lại, bố mẹ chồng cũng thừa nhận con dâu là con trong nhà, là thành viên trong nhà để bàn bạc và chia sẽ mọi công việc cùng con dâu, thậm chí còn thân tình hơn cả con gái do mình sinh ra, từ câu thành ngữ “con gái là con người ta, con dâu mới thật con bà bà ơi” đã cho thấy điều đó. Nhưng xét dưới góc độ pháp lý thì con dâu và cha mẹ chồng không có bất kỳ mối quan hệ nào trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Tương tự như vậy, một người con rể cũng có thể sống với bố mẹ, ông bà, anh, chị, em và các cháu của vợ. Con rể khi sống chung với gia đình của vợ cũng có nghĩa vụ như một người con và giống như người con dâu được nêu trên. Theo quy định tại Khoản 6 Điều 13 Luật HN&GĐ 2014, họ là thành viên của gia đình. Quy định này phù hợp với thực tế, với truyền thống đạo đức và phong tục tập quán tốt đẹp của gia đình Việt Nam, có tác dụng củng cố sự gắn bó, đoàn kết, giúp đỡ lần nhau giữa các thành viên trong gia đình, vun đắp hạnh phúc bền vững.

Một gia đình hạnh phúc là một gia đình tràn ngập tiếng cười của cha mẹ và con cái. Do đó, để duy trì mái ấm gia đình cần có sự tôn trọng, yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa cha mẹ – con cái cũng như các thành viên khác trong gia đình.

2.3. Quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

2.3.1. Quan hệ giữa anh chị em với nhau

Với những thế hệ trước đây, hầu hết các gia đình đều đông con, thậm chí còn có nhiều gia đình một người cha mà có đến hai, ba người mẹ, nên quan hệ giữa anh, chị, em với nhau phức tạp hơn ngày nay rất nhiều. Ngày nay, mỗi gia đình chỉ thường có từ một đến hai con, hoặc nhiều lắm là ba con – tất nhiên vẫn còn một số ngoại lệ – thì quan hệ giữa anh, chị, em trong gia đình trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Anh chị em là quan hệ được xác lập trên yếu tố huyết thống . Anh chị em là những thành phần không thể thiếu trong một gia đình, bởi thực tế cho thấy các gia đình thường có từ hai người con trở lên, chính vì vậy, Luật HN&GĐ 2014 vẫn kế thừa và ghi nhận về quyền và nghĩa vụ của anh chị em với nhau. Cụ thể được quy định tại Điều 105: “Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục”

Có thể thấy rằng, quy định trên phù hợp với truyền thống của người Việt. Anh chị em có quyền nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, chăm sóc giáo dục con. Như vậy, có thể hiểu anh chị em trong gia đình chỉ phải nuôi dưỡng nhau khi không còn cha mẹ hay cha mẹ không có điều kiện trông nom, chăm sóc nhau. Nhưng xét về mặt đạo đức, anh chị em luôn có nghĩa vụ đùm bọc, nuôi dưỡng nhau dù còn cha mẹ hay không còn cha mẹ, cha mẹ có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con hay không. Nhưng trong quan hệ pháp lý, quan hệ nuôi dưỡng giữa anh chị em với nhau chỉ hình thành trong điều kiện cha mẹ không còn hoặc không có khả năng nuôi dưỡng, có ít nhất một trong số anh chị em là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi, không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình. Trong trường hợp bố mẹ không còn hoặc bố mẹ đi làm ăn xa, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con cái thì vấn đề đặt ra là các anh chị em phải biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, chăm sóc nhau để cùng nhau lớn lên, cùng nhau phát triển.

Ngoài sự kiện sinh đẻ thì cũng có những sự kiện khác dẫn đến những người này có quan hệ anh chị em với nhau như: do sự kiện nuôi con nuôi đã dẫn đến người con nuôi trở thành anh chị em với những người con của người nhận nuôi con nuôi. Người con nuôi bình đẳng với mọi người con khác của người nhận nuôi con nuôi trong gia đình. Do quan hệ hôn nhân mà hai người con trai kết hôn với hai chị em gái trong một gia đình trở thành anh em rể với nhau hay còn gọi là anh em đồng hao, hai người con gái kết hôn với hai anh em trai trong một gia đình trở thành chị em dâu với nhau, một người kết hôn với con trai và một người kết hôn với con gái của cùng một gia đình trở thành con dâu, con rể của gia đình đó và cũng trở thành anh em dâu rể với nhau. Do quan hệ huyết thống mà những người con cô, con cậu, con chú, con bác, con dì là anh em họ của nhau. Ngoài ra, con riêng của vợ, con riêng của chồng cũng trở thành anh, chị, em của nhau do sự kiện hôn nhân giữa bố mẹ của những người con đưa lại. Khi những người trên cùng sống chung trong gia đình với nhau thì những người này là thành viên gia đình và giữa những người này cũng thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Mặt khác, anh chị em còn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau theo quy định tại điều 112 Luật HN&GĐ 2014: “Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Tất cả những quy định trên thể hiện được trách nhiệm, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình là phải luôn đùm bọc, quan tâm, thương yêu, giúp đỡ nhau nhất là những khi khó khăn, thiếu thốn, thể hiện tình anh em, máu mủ.

Anh, chị, em còn có nghĩa vụ và quyền giám hộ cho nhau theo quy định tại Điều 59 BLDS. Theo quy định trên thì anh chị ruột có nghĩa vụ là người giám hộ cho em chưa thành niên không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người em chưa thành niên đó. Nếu anh chị không thể thỏa thuận được thì anh cả hoặc chị cả sẽ là người giám hộ, nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ. Khi đó thì anh chị sẽ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với em chưa thành niên.

Như vậy, do sự kiện sinh đẻ và sự kiện nuôi con nuôi thì những người này trở thành anh em của nhau và là thành viên gia đình ngay cả khi những người này không cùng sống chung trong gia đình. Những trường hợp khác như do quan hệ hôn nhân đem lại như chị em dâu, anh em rể, anh chị em dâu và rể hay con riêng của vợ hoặc của chồng, anh chị em con cô, dì, chú, bác, cậu chỉ trở thành thành viên gia đình khi những người này cùng sống chung trong gia đình, khi những người này không cùng sống chung trong gia đình thì không được thừa nhận là thành viên gia đình. Qua đây cho thấy, trong thực tiễn xác định anh em rộng hơn rất nhiều so với quy định của pháp luật hiện hành về quan hệ anh chị em.

2.3.2. Quan hệ giữa ông bà và cháu Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Trong gia đình Việt Nam hiện nay hình thức mô hình gia đình ba thế hệ gồm ông bà, cha mẹ và con đang là mô hình rất phổ biến. Từ “ông bà nội, ông bà ngoại” và “cháu nội, cháu ngoại” đã giới hạn rất nhiều so với từ ông, bà và cháu được hiểu trong thực tế và cách xưng hô của người Việt Nam. Ông bà nội là người sinh ra cha của người cháu, ông bà ngoại là người sinh ra mẹ của người cháu. Ngược lại thì cháu nội là con đẻ của con trai ông bà; cháu ngoại là con đẻ của con gái ông bà. Nghĩa vụ và quyền giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu nội, cháu ngoại được thừa nhận ngay cả trong trường hợp ông bà không sống chung với cháu. Thực tế trong gia đình có ba thế hệ thì ông bà nội chiếm đa số, trong phong tục thờ cúng của người Việt Nam và quan điểm của dân gian “hết nội đến ngoại” cũng đã nói lên điều này. Điều luật không phân biệt nghĩa vụ và quyền của ông bà nội hay ông bà ngoại, quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý để tránh trường hợp làm trỗi dậy quan điểm phong kiến lạc hậu. Quan hệ giữa ông bà và cháu không chỉ dừng lại ở sự kiện sinh đẻ và sự kiện nuôi con nuôi mà thực tiễn còn có quan hệ giữa ông bà và cháu do hôn nhân đưa lại như ông bà với cháu dâu, ông bà với cháu rể. Cháu dâu là người vợ của cháu trai, cháu rể là người chồng của cháu gái. Khi cháu trai, cháu gái kết hôn mà không ra ở riêng thì người cháu dâu, cháu rể sẽ cùng sống chung trong gia đình với ông bà, những người này cũng là thành viên gia đình và có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong thực tiễn hiện nay cháu dâu cùng sống chung với ông bà nội rất phổ biến, không chỉ ở vùng nông thôn mà còn cả ở vùng thành thị. Điều này là do ảnh hưởng phong tục tập quán của người Việt Nam luôn muốn cha mẹ ở cùng để phụng dưỡng khi tuổi già nên các cháu sống cùng ông bà.

Cũng giống như nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền đối với cháu. Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu (Khoản 1 Điều 104 Luật HN&GĐ 2014). Đối với các cháu chưa thành niên hoặc các cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu. Nghĩa vụ và quyền này của ông bà nội, ông bà ngoại chỉ đặt ra khi cháu không có người nuôi dưỡng, trong trường hợp cháu có người nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại không phải thực hiện nghĩa vụ và quyền này. Cũng giống như nghĩa vụ và quyền của con đối với cha mẹ thì các cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại (Khoản 2 Điều 104 Luật HN&GĐ 2014).

Ngoài quyền và nghĩa vụ được quy định như trên thì ông bà và cháu còn có quyền và nghĩa vụ giám hộ nhau theo quy định của pháp luật: Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ. Theo quy định này thì ông bà nội, ông bà ngoại là người có quyền giám hộ cho cháu khi cháu cần được giám hộ. Khi làm người giám hộ cho cháu, ông bà nội, ông bà ngoại có đầy đủ các nghĩa vụ và quyền của người giám hộ theo quy định của pháp luật về giám hộ. Ngược lại, cháu cũng có thể trở thành người giám hộ cho ông bà nội, ông bà ngoại khi ông bà không có con phụng dưỡng. Quy định việc giám hộ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu là hoàn toàn phù hợp với đạo lý, truyền thống của gia đình Việt Nam. Theo quy định về thừa kế, nếu cháu (ruột) chết thì ông bà nội, ông bà ngoại ở hàng thừa kế thứ hai của cháu và ngược lại (điểm b khoản 1 Điều 651 BLDS 2015).

Không những thế, quan hệ giữa ông bà và cháu trong thực tiễn còn được mở rộng đến những người cùng họ. Chẳng hạn anh, chị, em ruột của ông bà nội, ông bà ngoại đều được các cháu gọi là ông bà. Cả anh chị em họ của ông bà nội, ông bà ngoại đều được các cháu gọi là ông bà. Trong trường hợp những người này cùng sống chung với nhau thì họ đều được thừa nhận là thành viên gia đình của nhau, do đó những người này cũng có quyền và nghĩa vụ đối chăm sóc quan tâm tới nhau. Thực tiễn còn cho thấy nhiều người khi tuổi già không có nơi nương tựa đã đến sống cùng cháu trong họ hàng để nương tựa, cũng có trường hợp cháu trong họ đến sống cùng để phụng dưỡng ông bà. Đây cũng là tinh thần hiếu thảo của các cháu đối với ông bà đã có truyền thống từ lâu đời. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Trong trường hợp gia đình có bốn thế hệ thì Cụ cùng sống chung trong gia đình với chắt. Cụ là người sinh ra ông bà, ông bà là người sinh ra cha mẹ, cha mẹ là người sinh ra cháu. Như vậy, giữa cụ và cháu như trên được gọi là cụ và chắt, giữa cụ và chắt còn có hai thế hệ giữa là ông bà và cha mẹ. Ngày nay, do khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao tuổi thọ của con người, thêm vào đó đời sống con người ngày càng được cải thiện về mọi mặt từ vật chất đến tinh thần. Từ đó làm tuổi thọ của người Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang càng ngày càng cao. Trong gia đình hiện nay đang còn nhiều gia đình có bốn thế hệ cùng sống chung theo mô hình bốn thế hệ, theo cách gọi của dân gian là “tứ đại đồng đường”, những gia đình nhiều thế hệ hơn nữa “ngũ đại đồng đường” hiện nay không nhiều. Khi cụ và chắt cùng sống chung trong gia đình thì cụ và chắt là thành viên gia đình. Nếu cụ và chắt không cùng sống chung trong gia đình với nhau thì không được xem là thành viên gia đình của nhau.

Ông bà là những thành viên không thể thiếu trong một gia đình, ông bà được ví như “cây cao bóng cả” luôn là tấm gương mẫu mực về nhân cách, đạo đức cho con cháu noi theo. Ngày nay, dù cuộc sống bộn bề tất bật nhưng vẫn còn có những gia đình giữ được truyền thống “tứ đại đồng đường” hoặc “tam đại đồng đường”, ba , bốn thế hệ cùng chung sống hòa thuận với nhau. Trong những gia đình như vậy, luôn tồn tại tình yêu thương gắn bó sâu sắc giữa các thành viên trong gia đình, ông bà bố mẹ và con cháu có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc nuôi nấng và phụng dưỡng nhau.

2.3.3. Quan hệ giữa cô, dì, chú, bác, cậu, cháu

Người Việt Nam có câu: “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì” nhằm thể hiện sự gắn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình. Có thể nói khi xác định cô, dì, chú, bác, cậu ruột và cháu ruột thì pháp luật dựa trên phương pháp suy đoán. Những người này là anh, chị, em ruột của cha, mẹ đứa trẻ được sinh ra. Việc quy định về quyên và nghĩa vụ như vậy nhằm thể hiện sự gắn bó tình thân, tinh thần trách nhiệm giữa những người có cùng huyết thống.

Nghĩa vụ nuôi dưỡng, theo Điều 106 Luật HN&GĐ 2016: “Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con và những người được quy định tại Điều 104 và Điều 105 của Luật này hoặc còn nhưng những người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng”. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Trường hợp cô, dì, chú, bác, cậu ruột sống cùng với cháu. Đây là những người có quan hệ huyết thống gần gũi với cháu. Pháp luật hiện hành gọi đây là những người có họ trong phạm vi ba đời. Trong thực tiễn, khi cháu sống cùng cô, dì, chú, bác, cậu ruột thì những người này thực hiện nghĩa vụ và quyền chăm sóc đối với cháu một cách tự nguyện ngay cả khi pháp luật không quy định. Thậm chí cô dì chú bác còn thực hiện nghĩa vụ và quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng ngay cả khi cô, dì, chú, bác, cậu không cùng sống chung với cháu [4; tr.227 – 235]. Đây là nghĩa vụ pháp lý ràng buộc trách nhiệm nuôi dưỡng cháu của cô, dì, chú, bác, cậu ruột. Trong trường hợp cô dì chú bác ruột sống chung với cháu, ngoài việc cấp dưỡng thì cô dì chú bác ruột còn có nghĩa vụ yêu thương chăm sóc, dạy bảo cháu của mình thay cho bố mẹ của cháu. Điều này đảm bảo cho cháu luôn được những người họ hàng yêu thương, chăm sóc nhất là khi những đưa trẻ này thiếu đi tình thương của cha mẹ, ông bà, anh chị.

Theo quy định tại Điều 114 Luật HN&GĐ 2014 và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột: “Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này”. Quyền và nghĩa vụ về cấp dưỡng nhau của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột chỉ xuất hiện khi những người này không còn cha, mẹ, con hoặc không có khả năng lao động để tạo ra thu nhập nuôi sống chính bản thân mình, những người này không có người chăm sóc, chu cấp về mặt kinh tế. Quy định này phù hợp với đạo đức xã hội, giữa những người có quan hệ thân thích trong gia đình, bảo đảm quyền lợi của trẻ khi chưa thể tự mình tạo ra thu nhập và bố mẹ không có đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ.

Ngoài ra, cô, dì, chú, bác, cậu ruột còn là người giám hộ cháu khi không còn cha mẹ, anh chị em ruột, ông bà nội, ông bà ngoại theo quy định tại điều 51 BLDS 2015. Và còn một quyền không thể thiếu giữa họ đó chính là quyền thừa kế tài sản của nhau. Điểm c Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: “Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”. Những quy định này thể hiện sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình, đồng thời xác định trách nhiệm và nghĩa vụ giữa các thành viên với nhau.

Những quy định về các thành viên trong gia đình: vợ – chồng, cha,mẹ – con, ông bà – cháu, anh – chị – em, … nhằm củng cố mối liên hệ giữa các thành viên, tạo sự gắn kết chặt chẽ thân thiết. Việc quy định nghĩa vụ của các thành viên nhằm xác định trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng quan tâm chăm sóc lẫn nhau không chỉ bằng đạo đức mà còn về mặt pháp lý, góp phần xây dựng gia đình vững mạnh, hạnh phúc bền lâu. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

Từ bao đời nay, tổ ấm gia đình và sợi dây truyền thống gia đình luôn là huyết mạch thiêng liêng, gắn kết sâu lắng mối quan hệ của mỗi thành viên. Từ sâu trong tâm thẳm của chúng ta, cái nôi gia đình luôn lưu giữ hình ảnh của tổ tiên, gia tộc, ông bà, cha mẹ lẫn người thân. Các thành viên trong gia đình luôn chung sống hòa thuận, chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau bằng tình thương yêu chan chứa. Gia đình là bến đỗ bình yên, thư giãn để sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc, chúng ta được chia sẻ, vỗ về và nếu có âu lo, buồn phiền thì được gột rửa, xoa dịu… Hai tiếng gia đình tuy giản đơn nhưng chứa đựng biết bao hạnh phúc, yêu thương, là trách nhiệm nghĩa vụ của các thành viên đối với nhau dưới một mái nhà. Hai tiếng gia đình sẽ và mãi mãi là tài sản vô giá đối với những ai đã trải nghiệm nắm giữ được nó hoặc đã để nó vuột khỏi tầm tay.

Gia đình là tổ ấm yêu thương, nơi mỗi con người sinh ra và trưởng thành. Gia đình là hai tiếng thiêng liêng mà mỗi chúng ta đi đâu cũng nhớ về. Nơi đó, ta có bàn tay vỗ về của mẹ, có bờ vai vững chãi bình yên của cha, có nụ cười hiền hậu ấm áp của ông bà, có tình vợ chồng yêu thương gắn bó,… Gia đình, nơi con tàu ước mơ ra đi và là điểm cuối cùng con tàu cập bến trở về. Mái ấm tuy nhỏ bé nhưng luôn sẵn sàng đón những người con trở về lúc thất bại, khi thành công, khó khăn hay hạnh phúc. Nơi đây ta hình thành nhân cách, vun đắp ước mơ và thực hiện bổn phận làm con, làm chồng, làm vợ, làm mẹ, cha,… Gia đình là tế bào của xã hội, trước khi là công dân của xã hội, mỗi chúng ta thực hiện bổn phận trong gia đình. Ngôi nhà là nơi che mưa che nắng thì gia đình che chở, vỗ về tinh thần, là điểm tựa bình yên theo mỗi chúng ta đi suốt cuộc đời. Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình

One thought on “Luận văn: Thực tiễn Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình

  1. Pingback: Luận văn: Gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464