Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các Ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, hoạt động ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu về vốn và thanh toán của khách hàng. Tuy nhiên, bản thân mỗi một ngân hàng cũng bị sức ép bởi thị phần kinh doanh. Do vậy, để tồn tại và thực hiện kinh doanh tốt hơn, mỗi một ngân hàng cần tìm ra những giải pháp thúc đẩy quá trình cung cấp dịch vụ, sản phẩm của mình tốt hơn đến khách hàng.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động khuyến mại, sự cần thiết phải thực hiện hoạt động khuyến mại và nhận diện các hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại, hậu quả pháp lý của hoạt động khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Trên cơ sở phân tích, làm rõ nhóm quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại
Trong đó tác giả chỉ rõ các điều khoản quy định về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vẫn chưa mang tính tập trung, đồng thời do tính đặc thù của hoạt động ngân hàng, nhiều hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vẫn chưa được quy định cụ thể trong Luật cạnh tranh năm 2018 và Nghị định 71/2014/NĐ-CP.
Từ đó, tác giả đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên kết quả đó, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật nhằm mục đích tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh thực sự giữa các tổ chức tín dụng, bảo đảm lợi ích khách hàng và sự an toàn hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia.
Câu hỏi nghiên cứu: Tác giả đặt ra những câu hỏi nghiên cứu để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, bám sát với tên đề tài.
Đối tượng nghiên cứu: Tác giả dựa trên những quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng.
Phạm vi nghi cứu về không gian: Tác giả lấy trọng tâm là các ngân hàng thương mại đang hoạt động ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Hoạt động khuyến mại về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2018 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, phương pháp so sánh luật học, phương pháp phân tích, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp đánh giá, phương pháp tổng hợp…
Từ khoá: Cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, hoạt động ngân hàng, ngân hàng thương mại.
- ABSTRACT
In the current international economic integration context, banking activities play a very important role in solving the capital and payment needs of customers. However, each bank itself is also pressured by business market share. Therefore, in order to survive and do better business, each bank needs to find solutions to promote the process of providing better services and products to customers.
Research objective of the thesis: to clarify the basic theoretical issues about promotional activities, the need to carry out promotional activities and identify promotional activities aimed at unfair competition in the retail stores. commercial banks, legal consequences of unfair competitive promotional activities in banking activities. On the basis of analysis and clarification of the group of legal provisions on promotional activities aimed at unfair competition at commercial banks.
In which the author points out that the provisions on promotional activities aimed at unfair competition in banking activities are still not centralized, and at the same time, due to the specificity of banking activities, many acts of encouraging Trade aimed at unfair competition in banking activities has not yet been specified in the Competition Law 2018 and Decree 71/2014/ND-CP.
From there, the author comprehensively assesses the current status of the current legal regulations and the actual implementation of the law on promotional activities aimed at unfair competition of commercial banks in Ho Chi Minh City. Based on that result, the author proposes a number of solutions to improve the law in order to create a truly healthy competition environment among credit institutions, ensuring customer interests and safety. national monetary and financial system.
- Research questions: The author poses research questions to clarify the research objectives, sticking to the topic title.
- Research object: The author based on the legal provisions on promotional activities aimed at unfair competition in the banking sector. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
- Scope of research on space: The author focuses on commercial banks operating in Ho Chi Minh City.
- Research scope of time: Promotion activities on unfair competition in banking activities of commercial banks in Ho Chi Minh City from 2018 to present.
- Research method: The author has used the method of dialectical materialism and historical materialism of Mac – Lenin, comparative jurisprudence, analytical method, information collection method, assessment methods, synthesis methods…
- Keywords: Competition, unfair competition, banking activities, commercial banks.
MỞ ĐẦU
1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng của Nhà nước đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên những động lực và bước tiến đáng kể đối với công cuộc canh tân nước nhà. “Thị trường đẩy, Nhà nước kéo”, những công cuộc canh tân ấy tuy đã mở ra nhiều cơ hội bứt phá mới nhưng đồng thời đã và đang đặt ra vô vàn thách thức cho mọi lĩnh vực, thuộc mọi thành phần DN, trong đó đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng, vốn là một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm trong nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia (Phạm Duy Nghĩa, 2007). Sự phát triển của nền kinh tế gắn liền với thương mại hàng hóa và dịch vụ, lĩnh vực ngân hàng đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các nhu cầu về vốn và thanh toán của một bộ phận không nhỏ các chủ thể trên thị trường. Tuy vậy, cũng chính trong bối cảnh hội nhập sâu rộng đó, các NHTM sẽ chịu sức ép cạnh tranh từ hai phía đó là cuộc cạnh tranh lẫn nhau để tồn tại, cuộc cạnh tranh từ bên trong, đồng thời còn phải cạnh tranh khốc liệt và không ngang sức với cả những NHTM của nước phát triển cao hơn để giành lấy thị trường ngày càng bị thu hẹp, cuộc cạnh tranh với bên ngoài. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải đối mặt với sức ép thu hẹp thị phần do sự phát triển của thị trường tài chính và các sản phẩm thay thế, cũng như những bất ổn từ hội nhập. Vì vậy, để tồn tại các ngân hàng phải chủ động tìm ra các giải pháp phù hợp để phát triển, đa dạng hóa sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và một trong những giải pháp thường được sử dụng hiện nay là hoạt động KM.
KM là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại được nhiều ngân hàng thương mại áp dụng nhằm thu hút khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của mình. Cạnh tranh thông qua hoạt động KM xét đến cùng là để các NHTM khẳng định uy tín và giá trị thương hiệu của mình trên thị trường, đồng thời mang lại lợi ích cho khách hàng. Tuy nhiên, trên thị trường tiền tệ, tín dụng tại TP HCM và các nơi khác, các NHTM coi thường pháp luật, tung ra các hoạt động KM thiếu lành mạnh. Các hoạt động KM nhằm CTKLM của các ngân hàng thương mại nếu không được ngăn chặn, chấn chỉnh sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế đất nước. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Thực tế này đòi hỏi phải xem xét những hoạt động này dưới góc độ pháp lý, thông qua đó tạo cơ sở cho các cơ quan chức năng nhận diện hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM và có biện pháp xử lý thích hợp nhằm mục đích tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh thực sự giữa các TCTD.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò là “Hiến pháp của nền kinh tế” cùng với “khế ước” và “tư hữu”, cạnh tranh tất yếu là yếu tố không thể thiếu trong tất cả các nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực đời sống xã hội và trong ngành ngân hàng không phải là ngoại lệ.
Cạnh tranh thông qua hoạt động KM là cần thiết cho sự phát triển, nếu được thực hiện một cách lành mạnh hoạt động này có thể góp phần nâng cao lợi ích xã hội, tối ưu hóa phúc lợi của tổng thể nền kinh tế thông qua các chính sách giảm giá, bổ sung lợi ích và tăng cường chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc thù, sự đổ vỡ của một ngân hàng có thể tạo hiệu ứng ảnh hưởng lan rộng đến nhiều ngân hàng khác, gây ra cuộc khủng hoảng nhanh chóng trên diện rộng và để lại hậu quả trầm trọng cho nền kinh tế quốc gia.
Do đó, hoạt động KM không thể trở thành một công cụ cạnh tranh được các NHTM thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, bất chấp pháp luật để cạnh tranh mà luôn phải chịu sự thanh tra, giám sát chặt chẽ và sự can thiệp của Chính phủ khi cần thiết.
Việc nhận diện, xử lý các hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM một cách chính xác dựa trên hành lang pháp lý cụ thể và thống nhất. Việt Nam đã có bộ phận pháp luật điều chỉnh hoạt động KM cũng như các yếu tố để xác định hành vi CTKLM, tuy nhiên những quy định này chỉ mang tính tổng thể, được áp dụng chung cho lĩnh vực thương mại. Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực chuyên ngành với những đặc thù riêng và việc xác định hoạt động KM nhằm CTKLM trong lĩnh vực này có những dấu hiệu đặc trưng riêng. Các dấu hiệu đặc trưng này cần phải được thể chế hóa để áp dụng trong thực tiễn một cách đơn giản. Cần phải có các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM.
Nếu xây dựng hành lang pháp lý về hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM sẽ góp phần quan trọng trong tiến trình hoàn thiện và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng nói chung và từng ngân hàng cụ thể. Góp phần nhận dạng, đánh giá và xử lý hiệu quả những hành vi KM phi cạnh tranh trong trung và dài hạn.
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động KM và hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM tại TP HCM. Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật nhằm mục đích tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh thực sự giữa các TCTD, bảo đảm lợi ích khách hàng và sự an toàn thị trường tài chính.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Luận văn của tác giả được nghiên cứu nhằm mục tiêu cụ thể sau:
Làm rõ những vấn đề về lý luận, phân tích khái niệm, đặc điểm của hoạt động KM và CTKLM, tính đặc thù của hoạt động KM và hành vi CTKLM được thể hiện trong hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM để làm rõ bản chất, nội dung, nguyên nhân, hậu quả của hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM; phân tích pháp luật và vai trò của pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM, thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động KM nhằm cạnh tranh trong HĐNH của các Đồng thời, tìm hiểu về thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động CTKLM của các NHTM tại TP HCM từ đó chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm của các quy định pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM cũng như các yếu tố xác định hành vi CTKLM trong hoạt động KM tại các NHTM.
Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về chống CTKLM đối với hoạt động KM của các NHTM ở Việt Nam hiện nay.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thế nào là hoạt động KM trong HĐNH? Vai trò của hoạt động KM trong HĐNH?
- Thế nào là hoạt động CTKLM? Dấu hiệu của hoạt động canh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng?
- Pháp luật quy định về các hình thức xử lý vi phạm hoạt động CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng.
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về KM trong HĐNH của các NHTM hiện nay tại TP HCM?
- Những bất cập và khó khăn khi thực hiện pháp luật về hoạt động KM trong HĐNH?
- Tình trạng các ngân hàng thực hiện KM nhằm CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng tại TP HCM?
- Những giải pháp nhằm xoá bỏ; hạn chế tình trạng KM nhằm CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng tại TP HCM?
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về hoạt động KM; KM CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng cụ thể:
- LTM năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Luật các TCTD năm 2010;
- LCT năm
- Nghị định 81/2018/NĐ – CP hướng dẫn thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại.
- Nghị định 35/2020/NĐ – CP hướng dẫn thực hiện LCT năm
- Nghị định 71/2014/NĐ-CP hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: hoạt động KM nhằm CTKLM và cơ chế thực thi pháp luật về chống CTKLM trong hoạt động KM đối với HĐNH của các NHTM tại TP HCM.
- Về thời gian: hoạt động KM về CTKLM trong HĐNH của các NHTM tại TP HCM từ năm 2018 đến nay.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện nghiên cứu đề tài một cách hiệu quả, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin là phương pháp chính được tác giả sử dụng nhằm nghiên cứu các vấn đề trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng của các sự vật, hiện tượng và trong mối quan hệ tổng thể giữa các tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác, trong quá trình từ hình thành đến phát triển qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Bên cạnh đó, tác giả còn dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong điều kiện xây dựng một nền kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.
- Bên cạnh đó, để hoàn thành Luận văn này, tác giả đã sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Phương pháp so sánh luật học: được sử dụng xuyên suốt luận án nhằm đối chiếu quy định pháp luật để tìm ra những điểm hợp lý trong các quy định pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM.
Phương pháp phân tích: phân tích số liệu tuyệt đối và tương đối trong Chương 2 Luận văn để phân tích các quy phạm pháp luật có liên quan đến tên đề tài. Từ đó rút ra nhận xét về hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM.
Phương pháp thu thập thông tin: phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong phạm vi Chương 2 để thu thập một số thông tin cần thiết để chứng minh thực trạng pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM của các NHTM qua thực tiễn tại TP
Phương pháp đánh giá: Sau khi thu thập thông tin và phân tích, tổng hợp và so sánh các quy định pháp luật về CTKLM trong hoạt động KM của các NHTM, tác giả sẽ đưa ra các quan điểm đánh giá các ưu điểm và hạn chế còn tồn động cùng các nguyên nhân hạn chế của quy định pháp luật. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 và Chương 3 của Luận văn.
Phương pháp tổng hợp: từ những vấn đề được phân tích, phương pháp tổng hợp được dùng đồng bộ trong tất cả các chương của Luận văn để tổng hợp các quan điểm khác nhau về nhận thức khoa học xung quanh các khái niệm, quy phạm pháp luật liên quan đến pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM.
6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Tác giả thực hiện nội dung nghiên cứu theo trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, với các nội dung như sau:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm và lý giải một số vấn đề lý luận cơ bản về KM và hoạt động KM nhằm CTKLM.
- Phân tích thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM qua thực tiễn từ TP HCM.
- Đánh giá về thực trạng quy định pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật chống CTKLM trong hoạt động KM của các NHTM ở Việt Nam hiện nay.
7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Với đề tài Pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại qua thực tiễn từ Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả kỳ vọng bài nghiên cứu mang đến những ý nghĩa sau:
Thứ nhất, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận pháp luật cơ bản về hoạt động KM và hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM.
Thứ hai, luận văn đã đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về CTKLM trong hoạt động KM của các NHTM ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những hạn chế mà pháp luật cần phải khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tới.
Thứ ba, luận văn kiến nghị những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật chống CTKLM trong hoạt động KM của các NHTM ở Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, luận văn là nguồn tài liệu nghiên cứu, học tập cho các sinh viên chuyên ngành luật cũng như chuyên ngành khác có liên quan và có thể mang tính tham khảo trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động KM nhằm CTKLM tại các NHTM.
8. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Trong xu thế toàn cầu hóa với nền kinh tế phát triển như hiện nay, các hành vi CTKLM ngày càng phức tạp và tinh vi, điều này dẫn đến việc quản lí và kiểm soát hành vi này trên thực tế ngày càng khó khăn. Chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết, ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ quốc gia và niềm tin của công chúng vào chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần nghiên cứu, đánh giá, làm rõ các vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động kiểm soát các hành vi CTKLM trong HĐNH; từ đó, đưa ra các giải pháp để khắc phục, hoàn thiện nhằm tạo ra hành lang pháp lí vững chắc để phục vụ cho việc điều chỉnh vấn đề này là rất quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc nghiên cứu các vấn đề về CTKLM trong hoạt động của các NHTM nói chung và trong hoạt động KM của các NHTM nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà luật học trong và ngoài nước, có thể kể đến như:
8.1. Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật hoạt động KM nhằm CTKLM theo pháp luật Việt Nam hiện nay: Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Nguyễn Thị Ngọc Sen (2018), “Hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp Luật Cạnh tranh”, Luận văn Thạc sĩ – Trường Đại học Luật – Đại học Huế. Luận văn tập trung làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật hành vi KM nhằm CTKLM, từ đó tác giả phân tích thực tiễn pháp luật những vấn đề bất cập của áp dụng pháp luật để kiểm soát hành vi KM nhằm CTKLM, từ đó đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm soát hành vi KM nhằm
Nguyễn Thị Hồng Phước (2021), “Xác định hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh”, Tạp Chí Kiểm Sát. Bài viết phân tích quy định, nguyên tắc xác định hành vi KM nhằm CTKLM và quy trình tố tụng giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại. Qua đó, tác giả kiến nghị: Cần thống nhất chế định này trong LCT và LTM; xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật dân sự và cạnh tranh; ban hành án lệ về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi KM nhằm CTKLM gây ra.
8.2. Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện pháp LCT và CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng:
Nhằm phục vụ việc giảng dạy về LCT trong cơ sở giáo dục đại học, một số giáo trình về pháp LCT trong và ngoài nước được biên soạn như: “Giáo trình Luật Cạnh tranh” của Tăng Văn Nghĩa, Đại học Ngoại thương Hà Nội, Nxb. Giáo dục, năm 2009; “Giáo trình Luật Cạnh tranh” của Đại học Kinh tế – Luật do PGS – TS Lê Danh Vĩnh chủ biên phát hành năm 2010; “Giáo trình Luật Cạnh tranh” của Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2012…
“Cạnh tranh và xây dựng pháp Luật Cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” sách do PGS.TS. Nguyễn Như Phát và TS. Trần Đình Hảo làm chủ biên, Nxb. Công an nhân dân năm 2001. Đây là công trình tập hợp các bài viết của nhiều tác giả khảo cứu về kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp LCT ở một số quốc gia trên thế giới; bàn luận về các chế định pháp LCT như pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh, pháp luật chống CTKLM, thiết chế quản lý nhà nước về cạnh tranh…đồng thời gợi mở một số vấn đề về xây dựng pháp LCT ở Việt Nam; Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Tạ Thu Hằng (2015), Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học – khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã làm rõ những phân tích và đánh giá thực trạng các quy định về CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng của LCT, các văn bản hướng dẫn thi hành và Luật các TCTD cũng như ở các văn bản pháp luật khác có liên Tác giả đã nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về chống hành vi CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay trong đó có thực trạng xử lý hành vi này. Từ đó, tác giả đã kiến nghị những điểm cần được hoàn thiện, những vấn đề cần được bổ sung nhằm tạo khung pháp lý chặt chẽ, phù hợp điều chỉnh HĐNH, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của HĐNH trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Việt Nam;
“Một số vấn đề về pháp Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng” của TS. Nguyễn Văn Vân, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2002. Bài viết này tác giả đã tổng quan về tình hình cạnh tranh trong HĐNH từ đó đề xuất các nguyên tắc xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực HĐNH và các biện pháp bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng;
“Áp dụng Luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng” của TS. Nguyễn Văn Tuyến đăng trên Tạp chí Luật học số 06/2006. Bài viết đã trình bày một số vấn đề cạnh tranh giữa các ngân hàng ở Việt Nam – quá khứ và hiện tại, quan niệm về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, những khó khăn, vướng mắc chủ yếu trong quá trình áp dụng LCT đối với thị trường dịch vụ ngân hàng;
“Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng – Nhìn từ góc độ pháp lý” của Nguyễn Kiều Giang đăng trên Tạp chí Luật học số 12/2007; Bài viết này dựa trên các quy định của LCT, tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề pháp luật về các hành vi CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng, nhận diện các hành vi CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng;
“Nguyên nhân và những hệ quả của tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng Việt Nam” của TS Nguyễn Trọng Tài. Bài viết này tác giả tập trung đề cập đến một số hậu quả và nguyên nhân của tình trạng CTKLM trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Bài viết đã góp phần nhận dạng, đánh giá và xử lý hiệu quả những hành vi CTKLM trong trung và dài hạn.
Trên cơ sở khảo sát các nghiên cứu trong và ngoài nước về pháp luật liên quan đến CTKLM trong HĐNH của các NHTM, tác giả có một số đánh giá sau đây: Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ nhất, một số vấn đề đã được các tác giả nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Trong quá trình thực hiện đề tài. Luận văn sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu của công trình này, bao gồm:
- Lý luận về cạnh cạnh tranh,
- Pháp luật về CTKLM trong hoạt động của các NHTM nói chung và hoạt động KM của các NHTM nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu về một số khía cạnh của hành vi CTKLM trong HĐNH.
Thứ hai, có một số vấn đề đã được các công trình nghiên cứu nhưng chưa sâu, chưa hệ thống, chưa toàn diện. Những nội dung này sẽ được Luận văn tiếp tục nghiên cứu làm rõ, cụ thể:
- Chưa làm rõ, xác định một số hành vi về CTKLM trong hoạt động KM tại các NHTM.
- Chưa xác định nội dung của pháp luật về CTKLM trong hoạt động KM tại các NHTM; nguyên tắc áp dụng pháp luật trong xử lý hành vi CTKLM trong hoạt động KM tại các NHTM.
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về CTKLM trong hoạt động KM của các NHTM, chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm để làm cơ sở đề xuất giải pháp, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật chống CTKLM trong hoạt động KM của các NHTM ở Việt Nam hiện
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI; HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về hoạt động khuyến mại
1.1.1. Khái niệm hoạt động khuyến mại
Trong quá trình hội nhập thế giới, sự tham gia ngày càng sâu rộng của các NHTM nước ngoài vào thị trường Việt Nam đã và đang tạo ra một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM trong nước với những NHTM nước ngoài. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi các NHTM phải cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Các NHTM Việt Nam cần xem xét và thay đổi mô hình kinh doanh thích hợp, từ cách xác định phân khúc khách hàng cho đến cấu trúc lại sản phẩm dịch vụ và thiết kế hệ thống kênh bán hàng định hướng khách hàng. Nhiều chương trình KM, bao gồm gửi tiền được quà, nhận lì xì, cơ hội trúng thưởng lớn, tặng chuyến du lịch,…được các ngân hàng thường xuyên tung ra để tăng sức cạnh tranh, thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư và DN.
Ở góc độ ngôn ngữ, Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Khuyến mại là những hành động, tài liệu, công cụ và kỹ thuật được dùng để bổ sung cho quảng cáo và chương trình tiếp thị (giảm giá, quà tặng, xổ số…) nói chung“. Với cách hiểu này KM được thực hiện qua một hoặc một số hành vi cụ thể, nó có thể là một hoạt động trực tiếp như tặng quà, giảm giá sản phẩm… hoặc gián tiếp bằng cách phát tài liệu có liên quan đến hàng hóa được KM. Tuy nhiên, các hoạt động này nhằm bổ trợ cho việc tiêu thụ một loại hàng hóa cụ thể của chủ thể kinh doanh hoặc thông qua chương trình KM chủ thể kinh doanh sẽ giới thiệu đến người tiêu dùng một sản phẩm mới của DN mình chuẩn bị đưa vào thị trường tiêu thụ (Nguyễn Thị Thủy Tiên, 2022).
Ở góc độ kinh tế: “Khuyến mại (tiếng Anh là “Sales Promotion”) là một hoạt động hỗ trợ và đẩy mạnh quảng cáo và bán hàng cá nhân. Hầu hết khuyến mại được thực hiện dưới thời gian ngắn và gia tăng giá trị vật chất cho sản phẩm hoặc nhãn hiệu. Giá trị hữu hình do khuyến mại tạo ra thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau nhưng mục đích cuối cùng của khuyến mại là khuyến khích những người chưa sử dụng dùng thử sản phẩm hoặc kích thích nhu cầu của khách hàng hiện tại”.
Dưới góc độ pháp lý, KM được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 88 LTM 2005 như sau: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”. Theo cách định nghĩa này, thì KM là cách thức, biện pháp thu hút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, bao gồm lợi ích vật chất hay lợi ích phi vật chất.
Như vậy, có thể thấy khuyến mại là một hình thức thực hiện xúc tiến thương mại phổ biến nhằm thúc đẩy hoạt động bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ. Bằng việc dành cho khách hàng những lợi ích vật chất hoặc tinh thần, thương nhân kích thích nhu cầu tiêu dùng, thúc đẩy người tiêu dùng mua và mua nhiều hơn các hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp hoặc phân phối. Ngoài ra, khuyến mại cũng là một hoạt động nhằm mục đích quảng bá thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động khuyến mại Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Trên cơ sở định nghĩa khái niệm như vậy, có thể nhận thấy hoạt động KM có các đặc điểm như sau:
- Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hoạt động KM
Chủ thể thực hiện hoạt động KM là thương nhân. Pháp luật cho phép, thương nhân được thực hiện KM dưới hai dạng sau: “Một là, thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh; Hai là, thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại thực hiện khuyến mại hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó”(Khoản 2 Điều 88, LTM 2005).
Như vậy hoạt động KM gắn liền với thương nhân đây là quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ mà pháp luật không cấm. Không có sự phân biệt giữa thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật. Theo đó tại khoản 1 Điều 91 LTM 2005 quy định: “Thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tổ chức hoạt động khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện hoạt động khuyến mại cho mình”.
Tuy nhiên, trong vài trường hợp hoạt động KM bị giới hạn, ví dụ tại khoản 2 Điều 91 LTM 2005 quy định: “Văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyên mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện”. Vì văn phòng đại diện không được phép kinh doanh, đồng thời cũng không thể sử dụng tư cách pháp nhân của DN.
- Thứ hai, KM là luôn dành cho khách hàng những lợi ích nhất định
Điểm để phân biệt hoạt động KM với các hoạt động xúc tiến thương mại khác là KM luôn dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Điều kiện của mỗi đợt KM sẽ tùy thuộc vào nhiều yếu tố như trạng thái cạnh tranh, điều kiện kinh phí dành cho chương trình KM mà giá trị lợi ích dành cho khách hàng có thể thay đổi (Giáo trình “Pháp luật về thương mại hàng hóa dịch vụ”, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr397).
- Thứ ba, đối tượng của KM Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Đối tượng của KM theo Điều 93, LTM 2005 là: “Hàng hóa, dịch vụ của thương nhân sử dụng các hình thức khuyến mại để xúc tiến việc bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó. Tuy nhiên, các hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp”. Pháp luật quy định hạn mức tối đa về giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để KM, mức giảm tối đa cho hàng hóa, dịch vụ được KM mà thương nhân được thực hiện trong hoạt động KM, được quy định cụ thể tại Điều 6, 7 Nghị định 81/2018/NĐ-CP. Căn cứ khoản 3 Điều 5 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, tiền có thể được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để KM trừ các trường hợp KM theo quy định tại các Điều 8, Điều 10, Điều 11 Nghị định 81/2018/NĐ-CP.
- Thứ tư, mục đích thực hiện KM
Cũng như các hoạt động xúc tiến thương mại khác, mục đích của KM là xúc tiến bán hàng và cung ứng dịch vụ. Với KM, thương nhân luôn muốn mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ với số lượng và giá trị tối ưu mà họ đặt ra. Cho dù sử dụng hình thức KM nào thì mục đích cũng là xúc tiến bán hàng và cung ứng dịch vụ. Cần lưu ý rằng thương nhân không chỉ được xúc tiến bán hàng, cung ứng dịch vụ ở thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ) mà còn được xúc tiến mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ ở thị trường đầu vào, mặc dù hình thức KM này không phổ biến (Giáo trình “Pháp luật về thương mại hàng hóa dịch vụ”, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr396). Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
1.1.3. Các hình thức khuyến mại
Các hình thức KM được quy định tại Điều 92 LTM 2005 theo hướng mở, theo đó bên cạnh tám hình thức KM được mô tả cụ thể thương nhân còn có thể áp dụng các hình thức KM khác. Tám hình thức KM được quy định cụ thể ở đó đều là các hình thức KM được áp dụng phổ biến trong thực tiễn thương mại. Khi áp dụng các hình thức KM này thương nhân chỉ cần thực hiện thủ tục thông báo hoặc đăng ký, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền không có quyền cấm đoán; trong khi đó, việc áp dụng các hình thức KM khác phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Như vậy, về nguyên tắc pháp luật thương mại tôn trọng quyền tự do lựa chọn các hình thức KM của thương nhân, không chỉ là sự tự do lựa chọn các hình thức đã được quy định cụ thể mà còn là quyền tự do sáng tạo các hình thức KM khác. Yêu cầu về sự chấp thuận đối với các hình thức KM không được quy định cụ thể chỉ nhằm mục đích xem xét tính hợp pháp của chúng trên cơ sở pháp luật hiện hành (Đinh Ngọc Dũng, 2018).
Việc quy định tám hình thức KM cụ thể cũng còn nhằm mục đích đặt ra các điều kiện cụ thể đối với từng hình thức KM đó. Các điều kiện được đặt ra đều nhằm hoặc bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng, đặc biệt là người tiêu dùng hoặc bảo vệ một môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền
Đây là hình thức KM thường được thương nhân sử dụng để giới thiệu sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tiến cho khách hàng dùng thử, là sản phẩm đang bán hoặc sẽ bán trên thị trường. Trên thực tế, hình thức KM này thường được áp dụng cho những hàng hóa, dịch vụ lần đầu tiên được đưa ra thị trường hoặc những hoạt động mới thâm nhập thị trường mà người tiêu dùng chưa biết, chưa tiêu thụ hoặc tiêu thụ rất ít. Điều 8 Nghị định 81/2018/NĐ – CP quy định: “Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường. Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào. Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu”. Đây cũng là một cách quảng cáo rất hay để lại ấn tượng rất sâu sắc cho khách hàng dùng sản phẩm để quảng bá cho chính sản phẩm đó. Thương nhân thực hiện KM bằng hình thức gửi hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng mẫu, dịch vụ mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ các thông tin liên quan đến việc dùng hàng mẫu, sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu. Pháp luật không đưa ra hạn chế nào về mặt thời gian áp dụng chương trình KM hay giá trị KM đối với hình thức này . Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
- Thứ hai, tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền
Khác với hình thức đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền nêu trên, ở hình thức này hàng hóa được tặng, dịch vụ được cung ứng không thu tiền là đồng nhất với hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng ngoài phạm vi chương trình KM. Thương nhân có thể cung cấp hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng mà không thu phí nhằm mục đích xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, không phải mặt hàng nào cũng đủ điều kiện làm quà tặng KM. Sản phẩm đó không được vi phạm quy định của pháp luật. Tặng quà không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy mua sắm, sử dụng dịch vụ mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp quảng bá, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của nhau.
Thứ ba, bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian KM đã được đăng ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc KM theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Khi KM theo hình thức này, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống hành vi bán phá giá, pháp luật quy định giới hạn mức độ giảm giá tối đa cũng như thời hạn hay tổng thời gian tối đa thực hiện chương trình KM tại Điều 10 Nghị định 81/2018/NĐ-CP: “Điều 10. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã thông báo (khuyến mại bằng hình thức giảm giá)
- Trong trường hợp thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá thì mức giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất kỳ thời điểm nào phải tuân thủ quy định tại Điều 7 Nghị định này.
- Không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trong trường hợp giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước định giá cụ thể.
- Không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu.
- Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức khuyến mại này để bán phá giá hàng hóa, dịch vụ.
- Tổng thời gian thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 120 ngày trong một năm, không bao gồm thời gian thực hiện khuyến mại của các chương trình khuyến mại bằng hình thức giảm giá trong khuôn khổ các chương trình khuyến mại tập trung và các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do Thủ tướng Chính phủ quyết định”. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Cần lưu ý rằng, trường hợp thương nhân giảm giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bới các lý do như hết thời vụ, hàng lỗi mốt, giải quyết hàng tồn kho để đưa hàng hóa mới ra thị trường hay lý do giải thể…không được xem là KM bằng hình thức giảm giá, nên không chịu các giới hạn về giá trị giảm giá và thời gian giảm giá. Tuy nhiên, nếu giảm giá bởi các lý do như vậy nhưng thương nhân lại thông báo tới người tiêu dùng dưới dạng chương trình KM thì điều đó vi phạm điều cấm “Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng” được quy định tại khoản 5 Điều 100 LTM 2005.
- Thứ tư, bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định
Theo các chương trình này, khách hàng có thể được hưởng những lợi ích nhất định theo những cách khác nhau. Phiếu mua hàng có nghĩa là giảm giá hoặc một mệnh giá nhất định để thanh toán cho những lần mua hàng sau trong hệ thống bán hàng của thương nhân. Phiếu dịch vụ cho phép sử dụng miễn phí dịch vụ, tuân theo các điều kiện do nhà cung cấp dịch vụ chỉ định (Nguyễn Thị Ngọc Sen, 2018). Ngoài ra, phiếu dự thi có thể mang lại lợi ích hoặc không cho khách hàng, tùy thuộc vào kết quả cuộc thi của họ. Đối với hình thức KM này thì giá trị vật chất dùng để KM cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được KM không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được KM đó trước thời gian KM (Điều 11, Nghị định 81/2018/NĐ-CP).
- Thứ năm, bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố
Theo đó việc mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ chỉ mang lại cho khách hàng quyền dự thi chờ cơ hội nhận giải thưởng do thương nhân trao tặng. Dựa trên kết quả dự thi của khách hàng mới quyết định giá trị giải thưởng, phiếu dự thi không trúng thưởng toàn bộ khách hàng tham gia chương trình KM. KM dưới hình thức này không bị khống chế về mức hoặc tổng mức giá trị giải thưởng; nên lợi ích mà khách hàng có thể nhận được (trong trường hợp trúng thưởng) có thể lớn hơn nhiều lần giá trị hàng hóa hay dịch vụ mà khách hàng đã mua. Bởi vậy, một mặt hình thức KM này có thể trở nên hấp dẫn đối với khách hàng nhưng mặt khác cũng tồn tại nguy cơ thương nhân sử dụng hình thức KM này chỉ để lừa dối khách hàng. Để giảm thiểu nguy cơ này và bảo vệ khách hàng, đặc biệt là người tiêu dùng, pháp luật đã quy định một số điều kiện tổ chức thực hiện tại Điều 12 Nghị định 81/2018/NĐ-CP: Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
“Điều 12. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (hoặc các hình thức tổ chức thi và trao thưởng khác tương đương)
- Nội dung của chương trình thi phải bao gồm các thông tin liên quan được quy định tại Điều 97 Luật thương mại và không được trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.
- Việc tổ chức thi và mở thưởng phải được tổ chức công khai, có sự chứng kiến của đại diện khách hàng và phải được thông báo cho Sở Công Thương nơi tổ chức thi, mở thưởng trước ngày tổ chức thi, mở thưởng. Trường hợp chương trình khuyến mại có tổng giá trị giải thưởng dưới 100 triệu đồng thì thương nhân không phải thông báo cho Sở Công Thương theo quy định tại Khoản này.
- Thương nhân thực hiện khuyến mại phải tổ chức thi và trao giải thưởng theo thể lệ và giải thưởng mà thương nhân đã công bố”.
Thứ sáu, bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố
Có thể gọi tắt đây là hình thức KM bằng chương trình mang tính may rủi. Để thực hiện hình thức KM, thương nhân có thể sử dụng nhiều cách thức khác nhau như giảm giá hàng hóa, dịch vụ; tặng sản phẩm để khách hàng dùng thử; tặng voucher,… Trong đó, chương trình KM mang tính chất may rủi là hoạt động KM khá đặc biệt, thương nhân cần đáp ứng một số quy định về điều kiện, hình thức, thủ tục tổ chức cũng như quy định về thời gian KM và giá trị KM tại Điều 13 Nghị định 81/2018/NĐ-CP:
“Điều 13. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (chương trình khuyến mại mang tính may rủi)
- Việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải được tổ chức công khai, theo thể lệ đã công bố, có sự chứng kiến của khách hàng và phải được lập thành biên bản.
- Trong trường hợp bằng chứng xác định trúng thưởng được phát hành kèm theo hàng hóa (gắn kèm, đính kèm, đặt bên trong hàng hóa hoặc các cách thức khác tương tự), thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo về thời gian và địa điểm thực hiện việc phát hành kèm bằng chứng xác định trúng thưởng vào hàng hoá cho Sở Công Thương nơi thực hiện việc phát hành kèm bằng chứng xác định trúng thưởng vào hàng hóa trước khi thực hiện.
- Bằng chứng xác định trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải tuân thủ các điều kiện sau:
- Được thể hiện dưới dạng vật chất (vé số, phiếu, thẻ dự thưởng; phiếu rút thăm, bốc thăm, quay số; thẻ, tem, phiếu cào; tem, phiếu trúng thưởng; nắp, nút, đáy, vỏ, thân của bao bì sản phẩm hoặc của sản phẩm; chính giải thưởng) hoặc thông điệp dữ liệu (tin nhắn; thư điện tử; mã code, mã giao dịch, mã khách hàng, mã sản phẩm) hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương để làm căn cứ cho việc xác định trúng thưởng qua cách thức ngẫu nhiên;
- Có hình thức khác với xổ số do nhà nước độc quyền phát hành và không được sử dụng kết quả xổ số của Nhà nước để làm kết quả xác định trúng thưởng. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
- Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng.
- Giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi quy định tại Khoản 4 Điều này là giải thưởng trong trường hợp hết thời hạn trao thưởng nhưng không có người nhận hoặc không xác định được người trúng thưởng”.
Thứ bảy, tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc giá trị mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác
Hình thức KM này thường được các nhà phân phối, bán buôn và bán lẻ thực hiện, nhằm thu hút khách hàng đến mua sắm hay sử dụng dịch vụ thường xuyên tại các cơ sở kinh doanh của mình, bởi lợi ích mà khách hàng tích lũy được qua mỗi lần mua sắm, sử dụng dịch vụ thông thường dưới hình thức chiết khấu thương mại theo một tỷ lệ phần trăm trên doanh số mua sắm, sử dụng dịch vụ. Hình thức KM này không bị giới hạn về mặt thời gian; nhưng thương nhân KM thường thực hiện việc chiết khấu thương mại định kỳ như sáu tháng hoặc mỗi năm một lần. Giới hạn giá trị vật chất dùng để KM cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được KM cũng không áp dụng đối với hình thức KM này. Tuy nhiên, hình thức KM này vẫn phải tuân thủ quy định về giới hạn tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để KM, mặc dù trên thực tế thương nhân KM không thể vượt qua giới hạn này.
- Thứ tám, tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích KM
Nhờ các chương trình văn hóa văn nghệ thuật mà các hàng hóa, dịch vụ của thương nhân được chú ý. Hình thức KM này dành cho khách hàng các lợi ích có tính chất tinh thần, tuy nhiên các lợi ích đó có thể quy về giá trị vật chất bằng các chi phí
mà thương nhân KM bỏ ra. Bởi vậy, nếu lợi ích mà khách hàng nhận được gắn liền với một giá trị mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ thì thương nhân KM vẫn phải tuân thủ quy định về giới hạn giá trị vật chất dùng để KM hoặc về giới hạn tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để KM theo quy định tại Điều 6, 7 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP.
- Thứ chín, các hình thức KM khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận
LTM 2005 quy định 8 hình thức KM, trong khi đó với sự hát triển nhanh chóng và đa dạng của nền kinh tế, của thị trường sản xuất, kinh doanh, cách thức và phương thức thực hiện các hoạt động KM của DN cũng theo đó ngày cang phát triển sôi động, phong phú và đa dạng hơn nhiều. Có những DN sử dụng cách thức chiết khấu bán hàng, chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại, thưởng theo doanh số, viết bài dự thi qua internet nhận quà tặng, chơi game tích điểm để tặng quà, bán hàng lưu động kèm theo việc cung ứng sản phẩm có giá thấp hơn thị trường, đổi hàng hóa cũ lấy mới, đấu giá ngược,…Đối chiếu với 8 hình thức trên các hình thức KM này không được hoặc khó xếp vào bất kỳ hình thức nào (Âu Diệu Linh, Nguyễn Quang Huy, 2019). Ở đây thương nhân có thể phát huy khả năng sáng tạo của mình. Tuy nhiên, mọi hình thức KM loại này đều phải tuân thủ các nguyên tắc KM như được quy định tại Điều 3 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP cũng như quy định về hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa dịch vụ dùng để KM hay mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được KM như được quy định tại Điều 6,7 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng phải căn cứ các cơ sở pháp lý này để xem xét và quyết định có chấp thuận hay không chấp thuận hình thức KM loại này.
1.1.4. Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Do bản chất của hoạt động KM là nhằm kích thích nhu cầu mua bán hàng hoá và sử dụng dịch vụ vì thế nếu không có sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan nhà nước thì sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng bất lợi cho các thương nhân khác và các khách hàng. Vì vậy để ngăn ngừa các tác động tiêu cực này, Điều 100 LTM 2005 đã quy định một số hành vi bị cấm trong hoạt động KM.
Có thể nhận thấy các hành vi bị cấm được quy định ở các điều khoản nêu trên đây nhằm bảo vệ ba nhóm lợi ích khác nhau, bao gồm: “(i)lợi ích cộng đồng, (ii) quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, đặc biệt là của người tiêu dùng, (iii) quyền cạnh tranh trong kinh doanh của thương nhân” (Giáo trình “Pháp luật về thương mại hàng hóa dich vụ”, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr407). Việc vi phạm các quy định cấm này đều có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại. Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn có thể buộc thương nhân vi phạm điều cấm chịu trách nhiệm dân sự theo BLDS hay Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Thương nhân cạnh tranh cũng còn có thể buộc thương nhân thực hiện hành vi KM nhằm CTKLM chịu trách nhiệm theo pháp LCT. Vì vậy, việc phân nhóm các hành vi bị cấm trong hoạt động KM như dưới đây một mặt giúp làm rõ tính chất của từng loại hành vi bị cấm đó, mặt khác giúp hiểu rõ hơn hậu quả pháp lý của việc vi phạm quy định cấm đối với từng loại hành vi. Tuy nhiên, cũng có hành vi bị cấm đồng thời nhằm bảo vệ các nhóm lợi ích khác nhau.
Thứ nhất, các hành vi KM bị cấm nhằm bảo vệ lợi ích công cộng bao gồm: “(i) Khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng; (ii) sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng; (iii) khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi; (iv) khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức; (v) khuyến mại để tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khỏe con người và lợi ích công cộng khác, (vi) khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân; (vii) khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại quá mức tối đa theo quy định tại khoản 4 Điều 94 của Luật này; (vii) dùng thuốc chữa bệnh cho người, kể cả các loại thuốc đã được phép lưu thông để khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc. Thương nhân thực hiện các hành vi này (vi phạm quy định cấm) có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại” (Điều 100, LTM 2005). Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ hai, các hành vi KM bị cấm nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, đặc biệt là của người tiêu dùng, bao gồm: “(i) khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; (ii) hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng” (Điều 100, LTM 2005). Thương nhân thực hiện các hành vi KM bị cấm thuộc các loại này bên cạnh việc có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại còn có thể bị khách hàng truy cứu trách nhiệm dân sự theo quy định của BLDS.
Thứ ba, các hành vi KM bị cấm nhằm bảo vệ quyền cạnh tranh trong kinh doanh của thương nhân là các hành vi KM nhằm CTKLM. Quy định cấm các hành vi KM nhằm CTKLM là quy định dẫn chiếu tới pháp luật cạnh tranh, bởi LTM 2005 không quy định cụ thể hành vi KM nào là nhằm CTKLM. Theo quy định của LCT thì hành vi KM nhằm CTKLM bao gồm: “(i) tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng;
(ii) khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; (iii) phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại; (iv) tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình; (v) các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm”.
1.2. Hoạt động khuyến mại trong hoạt động ngân hàng Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
1.2.1. Khái niệm hoạt động khuyến mại trong hoạt động ngân hàng
Theo quy định của LTM 2005, Nghị định 81/2018/NĐ – CP hướng dẫn thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại và ý kiến của Cục xúc tiến thương mại – Bộ công thương, thì TCTD được KM đối với sản phẩm, dịch vụ do mình kinh doanh, cung ứng hợp pháp.
Hoạt động KM là một công cụ quan trọng của xúc tiến thương mại, được các ngân hàng sử dụng để tác động vào thị trường. Mục đích của hoạt động KM là khuyến khích khách hàng hiện tại sử dụng nhiều dịch vụ hơn và thu hút khách hàng mới. Đồng thời làm tăng mức độ trung thành của khách hàng hiện tại, thu hút khách hàng tương lai, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ, đặc biệt làm tăng uy tín, hình ảnh của ngân hàng trên thị trường.
Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh, do vậy, hoạt động này tất yếu cũng mang những đặc điểm của hoạt động kinh doanh nói chung. Một hành vi được coi là HĐNH khi DN đó thực hiện hoạt động trên lĩnh vực ngân hàng một cách thường xuyên, liên tục và thu nhập có được từ hoạt động này là thu nhập cơ bản của DN đó. Theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật TCTD 2010, bổ sung năm 2017: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ như nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa quy định khái niệm KM trong hoạt động ngân hàng, từ hai khái niệm trên ta có thể rút ra khái niệm như sau: “Khuyến mại trong hoạt động ngân hàng là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động khuyến mại trong hoạt động ngân hàng
Ngoài những đặc điểm chung giống như các sản phẩm khác, sản phẩm dịch vụ tài chính có những điểm khác biệt. Do vậy, hoạt động KM trong ngân hàng cũng có những đặc điểm riêng sau:
- Thứ nhất, hoạt động KM của ngân hàng được tiến hành thường xuyên, liên tục và được duy trì trong thời gian dài.
Tuy nhiên, việc thực hiện lại gặp khó khăn bởi tính vô hình của dịch vụ ngân hàng nên đã hạn chế việc đưa ra những thông tin, hình ảnh, kết quả cụ thể mà chỉ có thể mô tả các dịch vụ bằng cách minh họa các yếu tố cấu thành dịch vụ như cơ sở vật chất kĩ thuật, đội ngũ nhân viên. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
- Thứ hai, hoạt động KM của ngân hàng rất đa dạng, phức tạp vì nó bị chi phối bởi nhiều phương diện truyền tin khác nhau của ngân hàng như:
Truyền tin ở bên ngoài ngân hàng, thông qua các phương tiện thông tin như truyền thanh, truyền hình, sách báo, gửi thư trực tiếp cho khách hàng… Các phương tiện này hướng tới không chỉ khách hàng hiện tại mà cả những khách hàng tương lai của ngân hàng.
Truyền tin tại các địa điểm giao dịch, bao gồm: trang trí tại phòng chờ, quảng cáo bằng panô, áp phích, bảng hướng dẫn khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ.
Thông tin của ngân hàng không chỉ được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tin trên mà còn được thực hiện thông qua đội ngũ nhân viên ngân hàng, đặc biệt là đội ngũ nhân viên giao dịch trực tiếp.
Đây là phương tiện truyền tin quan trọng của ngân hàng, bởi nhân viên trực tiếp vừa cung cấp sản phẩm dịch vụ, vừa hướng dẫn, thuyết phục khách hàng sử dụng chúng.
Dưới con mắt của khách hàng, nhân viên giao dịch là người đại diện của ngân hàng, là hình ảnh của ngân hàng, là người quyết định mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng.
Thông tin truyền miệng của khách hàng: do khó đánh giá được chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi sử dụng nên khách hàng của ngân hàng thường tin tưởng vào thông tin truyền miệng của những khách hàng đã sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Vì vậy, ngân hàng phải chú ý đến việc đánh giá mức độ hài lòng, thỏa mãn của khách hàng nhằm củng cố hình ảnh về chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong khách hàng.
1.2.3. Các hình thức khuyến mại trong hoạt động ngân hàng Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Các hình thức KM đã được áp dụng từ nhiều năm nay và đã trở thành công cụ quan trọng xúc tiến thương mại của các NHTM. Dần dần, các chương trình KM ngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng hơn trong HĐNH. Cụ thể đó là các hình thức KM sau đây:
- Thứ nhất, tặng hàng hóa, cung ứng, dịch vụ, không thu tiền kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Có thể khẳng định rằng xu thế ngày nay thì hình thức dùng hàng hóa, dịch vụ để KM đang ngày càng được mở rộng hơn so với những phương thức truyền thống khác. Sử dụng quà tặng KM chính là bí quyết giúp cho các DN có thể quảng bá đơn vị của mình đến với khách hàng hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đối với các ngân hàng cũng vậy việc sử dụng quà tặng được thiết kế riêng với mục đích truyền tải thông điệp đến với khách hàng của mình theo những giá trị tốt đẹp nhất.
Như tại Bản Việt, thời gian qua ngân hàng liên tục triển khai các chương trình khuyến mại, mỗi chương trình thường kéo dài 2-3 tháng với những loại quà tặng riêng cho từng nhóm khách hàng gửi tiết kiệm khác nhau.
Mới nhất là chương trình “Ngày mới theo chân bạn” triển khai từ ngày 11/3 dành tặng quà cho những khách hàng gửi tiết kiệm từ 50 triệu đồng với kỳ hạn chỉ một tháng. Khách hàng có thể linh động lựa chọn thêm nhiều loại quà khác nhau khi đăng ký mở thẻ ATM E-plus Bản Việt và kích hoạt dịch vụ ngân hàng điện tử miễn phí. Quà tặng là các sản phẩm từ thương hiệu Lock&Lock như bình nước, bộ đựng thực phẩm, cốc giữ nhiệt, túi kéo đa năng và bộ hộp đựng cơm. Ngoài quà tặng, người gửi còn được hưởng lãi suất lên đến 8,6% mỗi năm (Lộc An, 2019).
- Thứ hai, giảm giá sản phẩm trực tiếp
Đây là hình thức khuyến mại cơ bản và được sử dụng rộng rãi nhất. Những sản phẩm được giảm giá trực tiếp các sản phẩm như: tài khoản số đẹp, dịch vụ đặt vé tàu hỏa, vé xe khách, vé máy bay, phòng khách sạn, vé xem phim và đặt hoa trên các ứng dụng thanh toán online của ngân hàng. Hình thức KM này đã được các ngân hàng áp dụng trong việc thúc đẩy chuyển đổi số trong ngân hàng. Như Ngân hàng Agribank đã dành 4,6 tỷ đồng để tặng cho các khách hàng mở tài khoản mới, bằng nhiều hình thức như tiền mặt, quay số trúng vàng, hoặc combo giảm giá 50% khi thanh toán điện nước, đặt vé tàu xe…(Tuổi trẻ online, 2023) Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
- Thứ ba, tặng mã giảm giá, voucher, coupon
Đây có lẽ là điều nhiều người mong đợi khi tìm hiểu về KM của các ngân hàng. Mã giảm giá, Voucher và Coupon mặc dù khác nhau đôi chút trong cách thức thực hiện, nhưng có điểm chung là cùng giúp khách hàng mua được hàng với giá ưu đãi. Điển hình là chương trình ngân hàng Vietbank tặng voucher từ 700 ngàn đồng đến 16 triệu đồng cho khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm “Life Fun:D – sống thoả chất”
- Thứ tư, bán hàng cung ứng dịch vụ kèm theo phiếu dự thi trúng thưởng
KM dưới hình thức này không khống chế về mức hoặc tổng giá trị giải thưởng nên thường các lợi ích khi các khách hàng trúng thưởng là rất cao. Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SCB) đã tiến hành chương trình khuyến mại dành cho khách hàng tham gia các sản phẩm tiền gửi tại quầy, tiền gửi online và tài khoản thanh toán S- Free, Lộc Phát. Khách hàng thỏa điều kiện sẽ nhận số dự thưởng tham gia quay số định kỳ và quay số cuối chương trình với tổng giá trị giải thưởng 06 tỷ đồng, bao gồm nhiều phần quà hấp dẫn như xe máy, tủ lạnh, máy giặt, tiền mặt…, đặc biệt là xe ô tô Toyota Fortuner trị giá 1,3 tỷ đồng. Chương trình đã đem lại nhiều thành công cho ngân hàng SCB.
- Thứ năm, KM ngày vàng, giờ vàng, tuần lễ vàng
Ngoài các dịp lễ lớn như Tết nguyên đán, lễ tình nhân, quốc tế phụ nữ… các ngân hàng thương tung ra chương trình khuyến mại vào những khung giờ vàng, tuần lễ sinh nhật, chào hè… để thu hút người dùng tham gia vào quá trình mua, kích thích họ đưa ra quyết định mua hàng nhanh hơn.
Để tri ân khách hàng nhân dịp 60 năm sinh nhật Vietcombank từ 01/03/2023 đến 29/04/2023, Vietcombank dành 60.000 quà tặng cho khách hàng giao dịch tại quầy và 60.000 quà tặng cho khách hàng giao dịch trên ngân hàng số VCB Digibank/VCB DigiBiz với tổng giá trị gần 12 tỷ đồng. Khách hàng sẽ nhận được quà tặng ngay sau khi hoàn tất giao dịch tại quầy hay giao dịch trên ngân hàng số của Vietcombank.
- Thứ sáu, tri ân khách hàng
Tri ân khách hàng thường được dùng cho đối tượng khách hàng thân thiết, thường xuyên sử dụng sản phẩm/dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng thường đưa ra các chương trình khuyến mại như: tặng quà sinh nhật cho khách hàng, tặng quà 8/3, tổ chức các chương trình du lịch cho khách hàng VIP… Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
- Thứ bảy, chương trình khách hàng thân thiết
Hình thức khuyến mại này hướng đến tương tác và tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng thay vì tăng doanh số trước mắt. Hình thức khuyến mại này có thể được thực hiện dưới các hình thức phổ biến như thẻ thành viên. Có thể mở rộng hơn bằng các khuyến khích khách hàng giới thiệu bạn bè người thân đến mua sắm, viết giới thiệu về sản phẩm trên các ứng dụng xã hội,… Với các khách hàng thân thiết, các ngân hàng cung cấp thông tin sản phẩm, dịch vụ thường xuyên, cung cấp nhiều ưu đãi hơn để duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng.
- Thứ tám, hoàn tiền
Từng được áp dụng phổ biến với các sản phẩm có giá trị lớn như đồ điện gia dụng, xe hơi, đồ điện tử… Nhưng hiện nay các ứng dụng thanh toán online của ngân hàng đang áp dụng các KM hoàn tiền một cách khá phổ biến. Nếu ngày trước việc hoàn tiền đòi hỏi nhiều thủ tục và gây phiền phức cho khách hàng, thì nay với công nghệ của các ví điện tử, việc hoàn tiền diễn ra gần như ngay lập tức khi bạn thanh toán.
Thông thường, hoàn tiền hay được nhắc tới cùng với thẻ tín dụng, thậm chí có những chiếc thẻ tín dụng cashback được thiết kế dành riêng cho những tín đồ mua sắm yêu thích hình thức KM này. Tuy nhiên, thời gian gần đây, có thể thấy hoàn tiền đã được mở rộng thêm trên thị trường tài chính, khi một số ngân hàng áp dụng hình thức KM hấp dẫn này đối với cả các dịch vụ thanh toán trên kênh ngân hàng số chứ không chỉ với những chi tiêu qua thẻ tín dụng.
Chương trình “Giao dịch cực nhanh, hoàn tiền cực đã” của PVcomBank áp dụng ưu đãi hoàn tiền cho các chi tiêu online rất đa dạng, từ nạp tiền điện thoại, thanh toán hóa đơn, thanh toán trực tuyến mua hàng, chuyển tiền liên ngân hàng, thanh toán hóa đơn tự động. Trong hơn 1 tháng triển khai chương trình, ngân hàng này cũng ước tính sẽ hoàn cho khách hàng gần 100 triệu đồng.
1.2.3. Sự cần thiết phải thực hiện hoạt dộng khuyến mại trong hoạt động ngân hàng Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
KM là một trong các hình thức phổ biến giúp ngân hàng thúc đẩy bán hàng, tăng nhận diện thương hiệu, kết nối với khách hàng,…Đây là một hoạt động nên có trong các chiến lược kinh doanh và marketing. Tuy nhiên, tùy vào từng DN, cách xây dựng thương hiệu và định vị sản phẩm, chủ DN nên có kế hoạch và chiến lược cụ thể để triển khai hoạt động này một cách hiệu quả nhất (Đặng Phương Linh, 2020).
Thứ nhất, góp phần thúc đẩy thương hiệu, nâng cao khả năng nhận biết, quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín và tăng vị thế cạnh tranh cho ngân hàng.
Đây là một trong những vai trò quan trọng nhất của KM trong HĐNH. Đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ cung ứng tương đối giống nhau giữa các NHTM, do đó việc tạo ra một sự khác biệt nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh là rất quan trọng. Việc tạo lập vị thế cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ngân hàng phụ thuộc khá lớn vào khả năng, trình độ marketing của mỗi ngân hàng. Trong đó, hình thức KM là một hình thức đem lại hiệu quả cao cho hoạt động xúc tiến thương mại cho hàng hóa, dịch vụ của ngân hàng.
Thứ hai, giúp ngân hàng nhận biết được các yếu tố của thị trường, nhu cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ ngân hàng và sự biến động của chúng.
Hoạt động KM sẽ làm cầu nối cung cấp thông tin, dẫn dắt hướng di chuyển của tiền vốn, khai thác khả năng huy động vốn, phân chia vốn theo nhu cầu thị trường một cách hợp lý. Nhờ có KM mà ban lãnh đạo ngân hàng có thể phối kết hợp và định hướng cả hoạt động của ngân hàng vào việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tiềm năng ở mức có lợi cao nhất cho ngân hàng.
Thứ ba, là công cụ giúp cho các NHTM tăng năng lực cạnh tranh trên thương trường.
Hoạt động kinh doanh của các NHTM là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, đối diện với môi trường hoạt động bao trùm. Môi trường kinh doanh không ngừng biến động và cuộc chiến dành giật thị trường ngày càng khốc liệt, đòi hỏi các NHTM phải lựa chọn cấu trúc và điều chỉnh cách thức hoạt động phù hợp. KM là công cụ giúp nguồn lực của NHTM sẽ được phân phối và sử dụng hiệu quả theo đúng tín hiệu thị trường thông qua các bộ phận và toàn thể nhân viên ngân hàng trong việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
1.3 Hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
1.3.1. Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường, là thế mạnh mà các nền kinh tế thị trường (Đỗ Huy Hà, 2007) đều dựa vào để buộc các DN phát triển theo hướng ngày càng cung ứng đa dạng hơn các loại dịch vụ, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu và lợi ích của người tiêu dùng, các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Với tư cách là một trong những đặc trưng cơ bản, đồng thời là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường, khái niệm cạnh tranh đã được hiểu từ nhiều góc nhìn khác nhau.
Theo Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Theo định nghĩa trên thì cạnh tranh được coi là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiền năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng.
Từ điển Tiếng Việt Bách khoa tri thức phổ thông cũng có cách giải thích cạnh tranh tương tự: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Với cách giải thích này có thể xem cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, do đó là động lực bên trong của nền kinh tế phát triển.
Hành vi CTKLM được định nghĩa tại khoản 6 Điều 3 LCT 2018 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”.
Như vậy, CTKLM được hiểu là việc DN không tuân thủ nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh. Hành vi CTKLM sẽ gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của DN khác.
1.3.2. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh là cần thiết cho sự phát triển, cạnh tranh lành mạnh có thể góp phần nâng cao lợi ích xã hội thông qua việc giảm giá và tăng cường chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc thù, nơi một cơ chế thị trường tự do hoàn toàn không phải là một lựa chọn tối ưu nhất do ngân hàng là ngành nhạy cảm, sự đổ vỡ của một ngân hàng có thể ảnh hưởng đến nhiều ngân hàng khác, gây ra cuộc khủng hoảng ngân hàng có khả năng lan truyền nhanh chóng trên diện rộng và có thể trở thành khủng hoảng kinh tế. Do đó, cạnh tranh ngân hàng không thể được thực hiện bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ cạnh tranh mà luôn phải chịu sự thanh tra, giám sát chặt chẽ và sự can thiệp của Chính phủ khi cần thiết (Nguyễn Vĩnh Hưng và nhóm nghiên cứu, 2019)
Theo công ước Paris về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp thị bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lê trung thực, thiện chí trong công nghiệp và thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Bản chất của CTKLM là sử dụng các biện pháp không chính đáng để tạo lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác (Đỗ Hải, 2007).
Khái niệm CTKLM được quy định rõ ràng tại khoản 6 Điều 3 LCT 2018: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.”
Như vậy, CTKLM được hiểu là việc DN không tuân thủ nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh. Hành vi CTKLM sẽ gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của DN khác.
Ở Việt Nam, hiện nay không có điều khoản cụ thể quy định khái niệm CTKLM trong hoạt động ngân hàng. Xét trong bối cảnh hoạt động ngân hàng, có thể tham khảo tại khoản 4 Điều 3 Dự thảo Nghị định lần 2 của Chính phủ quy định về hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lí các hành vi này như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là hành vi của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động ngân hàng trái với những chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp khác của tổ chức tín dụng, đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng”.
1.3.3. Các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
Thị trường dịch vụ ngân hàng là một loại thị trường đặc biệt. Chỉ cần một thông tin thất thiệt về một TCTD nào đó được tung ra trước công chúng cũng đủ để cho tổ chức này lâm vào tình trạng khốn đốn do bị khách hàng rút tiền hàng loạt và hệ quả kéo theo là cả hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế bị ảnh hưởng.
Thị trường dịch vụ ngân hàng cũng có thể có sự liên kết để trở thành xu hướng độc quyền nhóm, nguy cơ tiềm ẩn những hành vi vi phạm LCT trong lĩnh vực ngân hàng. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Bên cạnh đại đa số các ngân hàng đã chấp nhận sự cạnh tranh lành mạnh bằng chất lượng dịch vụ và các hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng, vẫn còn có một số ngân hàng CTKLM bằng các hoạt động sau:
Thứ nhất, xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh của các TCTD
Bảo mật thông tin là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh của các DN. Trong HĐNH, việc bảo mật thông tin có vai trò vô cùng quan trọng. Bởi thông tin trong HĐNH không chỉ ảnh hưởng đến việc kinh doanh của một tổ chức, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của khách hàng, nguy hiểm hơn là đe dọa đến sự ổn định, an toàn của toàn bộ hệ thống tín dụng. Do đó, quy định về bảo mật thông tin trong HĐNH được quy định rất nghiêm ngặt. Điều 14 Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi năm 2017 quy định về bảo mật thông tin trong hoạt động tín dụng như sau:
“Điều 14. Bảo mật thông tin
- Nhân viên, người quản lý, người điều hành của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được tiết lộ bí mật kinh doanh của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”.
Bảo mật thông tin không đơn thuần là bảo vệ thông tin của cá nhân người dùng mà còn là một loạt các chiến lược nhằm ngăn chặn những truy cập, hành vi trái phép liên quan tới tài sản, dữ liệu, thông tin riêng của tổ chức/ cá nhân. Bảo mật thông tin là nghĩa vụ bắt buộc của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Căn cứ theo quy định trên, nhân viên, người quản lý, người điều hành của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được tiết lộ bí mật kinh doanh của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Vấn đề thông tin nội bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc tồn tại, phát triển, kinh doanh của một DN. Trong đó, bí mật kinh doanh là một trong những thông tin tuyệt mật. Bất kỳ một thông tin nào liên quan đến việc kinh doanh, quản lý, điều hành cũng có thể là bí mật kinh doanh. Đó có thể là những bí quyết, phương thức, những thông tin về đầu tư tài chính, chiến lược kinh doanh, phương pháp lưu trữ tài liệu, quy trình, quản lý kinh doanh, phần mềm dùng cho các hoạt động kinh doanh… của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo khoản 23 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ, năm 2019: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”. Theo đó, nghĩa vụ bảo mật bí mật kinh doanh của TCTD thuộc về những cá nhân làm việc trong chính TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó bao gồm: nhân viên, người quản lý, người điều hành. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của TCTD có thể bao gồm:
- Hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của TCTD;
- Hành vi tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu kinh doanh.
Thứ hai, ép buộc khách hàng trong kinh doanh
Khoản 2 Điều 45 LCT 2018 cấm DN ép buộc khách hàng ngừng giao dịch với DN khác hoặc không giao dịch với DN đó. Quy định này bắt nguồn từ nội dung của pháp luật về CTKLM trước đây, theo đó cấm thương nhân tìm cách phá vỡ quan hệ hợp đồng ổn định của đối thủ cạnh tranh với khách hàng. Trong thời kì đó, ngay cả các hình thức lôi kéo khách hàng của DN khác bằng cách giảm giá, ưu đãi cũng có thể bị coi là CTKLM nếu như khách hàng vốn có quan hệ lâu dài từ trước với đối thủ cạnh tranh và các điều kiện giảm giá, ưu đãi tỏ ra quá lớn so với thông lệ kinh doanh trong ngành. Tuy nhiên, khi nền kinh tế xã hội phát triển, cơ chế cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, khả năng tìm kiếm đối tượng khách hàng mới bị thu hẹp lại và các doanh nghiệp tất yếu phải cạnh tranh bằng cách giành giật khách hàng của nhau. Các hoạt động lôi kéo khách hàng bằng KM, ưu đãi và đặc biệt là giảm giá được chấp nhận là hình thức cạnh tranh chính đáng, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng và qua đó nâng cao phúc lợi xã hội nói chung. Pháp luật về CTKLM chỉ cấm những hình thức giành giật khách hàng bị coi là bất chính, đi ngược lại với khách hàng, người tiêu dùng.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, hành vi ép buộc khách hàng thể hiện ở việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng với những điều kiện bất hợp lý như: chỉ được sử dụng các dịch vụ hỗ trợ do ngân hàng cung cấp, mở hoặc phải mở một tài khoản duy nhất tại ngân hàng mà không được phép một tài khoản ở một ngân hàng khác.
Hành động của các ngân hàng trong những trường hợp này được coi là đã xâm phạm đến quyền lựa chọn dịch vụ mà mình mong muốn của khách hàng và quyền tự do kinh doanh của các TCTD khác.
Thứ ba, gièm pha TCTD khác Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác được quy định tại khoản 3 Điều 45 của LCT 2018 là việc đưa ra các thông tin không trung thực về DN, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của DN đó.
Trong HĐNH, hành vi cung cấp thông tin không trung thực của các TCTD khác có thể được thể hiện như: Nói xấu TCTD khác, tung tin không chính xác về tình hình tổ chức hoặc hoạt động kinh doanh của TCTD khác nhằm gây khó khăn cho hoạt động của tổ chức này (Nguyễn Kiều Giang, 2007). Có thể kể đến vụ việc các cán bộ NHTM tung những thông tin sai sự thật về Ngân hàng SCB, vận động, lôi kép khách hàng rút tiền gửi để gửi sang ngân hàng mình là CTKLM có thể tạo ra sự bất ổn cho SCB và mất an toàn chung cho hệ thống NHTM. Mặc dù chưa thể xác định được đây có phải là tin đồn do một ngân hàng khác đưa ra hay không nhưng nếu các cơ quan chức năng xác định được điều này thì đây có thể coi là hành vi CTKLM thông qua việc gièm pha TCTD khác (Như Quỳnh, 2022).
Thứ tư, gây rối hoạt động kinh doanh của các TCTD khác
Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghệp khác được quy định tại khoản 4 Điều 45 LCT 2018, theo đó cấm doanh nghiệp “gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của DN khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Căn cứ điều khoản này có thể xác định hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của DN khác dựa trên các nguyên tắc sau:
- Giữa hai bên tồn tại quan hệ cạnh tranh;
- Hành vi cạnh tranh thể hiện sự không trung thực, không thiện chí, đi ngược lại thông lệ, chuẩn mực đạo đức kinh doanh;
- Hành vi vi phạm không bị điều chỉnh bởi một quy định khác của pháp luật về CTKLM cũng như các văn bản pháp luật khác.
Có thể dẫn chứng việc khi có thông tin xấu liên quan Công ty CP Tập đoàn đầu tư An Đông và Ngân hàng NHTM cổ phần Sài Gòn, nhiều khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng NHTM cổ phần Sài Gòn đã hoang mang rút trước hạn thì cũng xuất hiện việc nhiều NH khác tung nhân viên đến tận các chi nhánh của Ngân hàng NHTM cổ phần Sài Gòn để phát tờ rơi và hướng dẫn người dân đến gửi tiền tại NH mình. Có NH chỉ đạo toàn hệ thống làm việc cả ngày thứ bảy để đón nguồn tiền này, thậm chí có NH còn mở cửa đến tối thứ bảy để tranh thủ dù đây là ngày nghỉ (Ánh Hồng, Thảo Lê, 2022).
Thứ năm, lôi kéo khách hàng bất chính Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
LCT 2018 đã thay thế hai hành vi quảng cáo và KM nhằm CTKLM bằng một quy định mang tính khái quát hơn về lôi kéo khách hàng bất chính. Khái niệm lôi kéo bất chính có thể sử dụng để mô tả nhiều hành vi cạnh tranh khác nhau, với chung bản chất là tác động sai trái lên khách hàng để khiến họ lựa chọn mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ của mình, đồng nghĩa với việc không hoặc ngừng mua hàng hóa của đối thủ cạnh tranh. Trên thực tế, các chủ thể kinh doanh có khả năng sáng tạo ra rất nhiều cách thức khác nhau để lôi kéo khách hàng. Tuy nhiên, khoản 5 Điều 45 LCT 2018 chỉ giới hạn hai dạng hành vi là:
- Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, KM, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác;
- So sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung.
Trong lĩnh vực ngân hàng, hành vi lôi kéo khách hàng bất chính có thể được thể hiện như TCTD quảng cáo đưa ra không đúng hoặc gây hiểu lầm về nguồn lực tài chính, đưa ra những báo cáo kiểm toán gây hiểu lầm để hỗ trợ những quảng cáo, với quan điểm là để thu hút người gửi tiền từ những ngân hàng khác.
Thứ sáu, bán hàng dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
Khoản 6 Điều 45 LCT 2018 quy định cấm hành vi: “Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó”.
Cung ứng dịch vụ trong chương trình khuyến mại với giá rẻ hơn giá thành với thời gian vượt quá 45 ngày. Đây có thể là hiện tượng bán phá giá dịch vụ, nếu kéo dài trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng có ít khả năng tài chính hơn.
Do đặc tính riêng biệt vốn có, hành vi CTKLM trong hệ thống ngân hàng không chỉ gây ra hậu quả cho khách hàng, đối thủ cạnh tranh mà nó còn có thể tổn hại đến lợi ích quốc gia, điều hành chính sách tiền tệ. Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng cần phải có chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi sai phạm này.
1.3.4. Hậu quả của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
1.3.4.1. Đối với các ngân hàng thương mại Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Các NHTM đang phải cạnh tranh trong tình trạng mật độ các điểm dịch vụ ngân hàng dày đặc do việc cho mở quá nhiều NHTM có quy mô, sở hữu, năng lực khác nhau, nhưng sản phẩm, thị trường cạnh tranh giống nhau. Thực trạng này đã dẫn đến chính sách khách hàng không hợp lí, làm chi phí hoạt động và lãi suất huy động tăng, “miếng bánh” huy động bị dàn mỏng.
Những hành vi CTKLM có thể trực tiếp khiến cho biên độ lợi nhuận của ngân hàng mỏng đi, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh cuối năm của ngân hàng lớn hơn nữa là có thể đi đến tình trạng phá sản hoặc bị thâu tóm, mua lại. Vì cạnh tranh, đã có không ít NHTM phải giải thể hoặc sát nhập, nhưng cũng thông qua cạnh tranh, nhiều ngân hàng đã khẳng định được vị thế của mình. Chính vì vậy, buộc các NHTM phải nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng.
1.3.4.2. Đối với khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp chịu tác động của những hành vi CTKLM. Những khách hàng bị lừa dối bị mất tiền những giá trị thực sự nhận được mà sản phẩm mang lại không được như ý muốn. Sau những phản ứng tẩy chay tưởng chừng là thực hiện quyền của mình, thì chẳng được gì ngoài việc mất lòng tin vào sản phẩm, vào ngân hàng và ngày càng e dè, quan ngại với những sản phẩm khác trên thị trường.
Nhìn bề ngoài, nhiều hoạt động KM có vẻ tạo cơ hội tốt hơn cho khách hàng, chẳng hạn như trường hợp NHTM giành giật khách hàng. Tuy nhiên, những lợi ích này là ngắn hạn và sẽ không mang lại lợi ích cho khách hàng trong dài hạn. Nếu hành vi CTKLM tiếp diễn sẽ tác động tiêu cực đến khách hàng họ không có thông tin đáng tin cậy, chất lượng dịch vụ ngân hàng mà họ được hưởng hầu như không được cải thiện, quan hệ lâu dài với các NHTM ít được quan tâm và khó thiết lập…
Về nguyên lý, thị trường tài chính cạnh tranh luôn tạo cơ hội cho khách hàng của họ – với tư cách là người hưởng lợi từ việc giảm chi phí. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam trong thời gian qua lại không cho thấy điều này, thậm chí ngược lại, khách hàng đang phải chịu chi phí giao dịch ngày càng tăng (Kiều Hữu Thiện, 2012). Sở dĩ các DN, tổ chức kinh tế ở Việt Nam vẫn phải chấp nhận vay lãi suất cao từ các NHTM là thực tế họ không còn cách nào khác để huy động vốn do thị trường tài chính rất sôi động và kém hiệu quả. Khi thị trường vốn vẫn là sân chơi của các NHTM, việc các NHTM tự ý tăng lãi suất không phải là hiếm, nhưng chưa hề có bất cứ NHTM nào bị xử lý.
1.3.4.3. Đối với nhà nước
Cạnh tranh được coi như là tất yếu của nền kinh tế; là môi trường; là động lực thúc đẩy sự phát triển mọi thành phần trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh, bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc. Mặt khác, cạnh tranh thúc đẩy đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế. Quan trọng hơn, cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho các ngân hàng trong nước vươn ra thị trường nước ngoài.
Khi các ngân hàng có hành vi CTKLM, người tiêu dùng mất lòng tin vào ngân hàng dẫn đến lợi nhuận của các ngân hàng giảm, Nhà nước thất thu một khoảng từ thuế của các ngân hàng. Khi các ngân hàng CTKLM, các hoạt động của thị tường cũng bị ảnh hưởng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ của các Ngân hàng Việt Nam trên thị trường cũng bị ảnh hưởng, theo đó, quá trình hội nhập của các ngân hàng ra thị trường nước ngoài trở nên khó khăn hơn. Mặt khác, hoạt động CTKLM ở trong nước tạo tâm lý không tốt đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam, từ đó ảnh hưởng tới thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Với nhiệm vụ làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động khuyến mại, tác giả tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm, các hình thức và hành vi bị cấm đối với hoạt động khuyến mại; Từ đó, tác giả đúc kết rằng: Khuyến mại là một hình thức xúc tiến thương mại bằng việc dành cho khách hàng những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng, thúc đẩy người tiêu dùng mua và mua nhiều hơn các hàng hoá, dịch vụ mà DN cung cấp hoặc phân phối. Dựa vào lý luận cơ bản trên, tác giả có được tiền đề nhằm tổng hợp, phân tích và tìm hiểu một cách chi tiết hơn đối với những vấn đề lý luận về hoạt động khuyến mại trong ngân hàng, sự cần thiết của hoạt động này trong lĩnh vực ngân hàng; thêm vào đó tác giả thống kê và giải thích các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hậu quả của việc làm này đối với các mối quan hệ trong môi trường ngân hàng. Đương nhiên, pháp luật đã quy định các chế tài xử phạt đối với các hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, những nội dung pháp luật nêu liệu có đảm bảo cập nhật kịp với xu hướng của thực trạng vấn đề này? Với mục tiêu nghiên cứu đề tài, tác giả đã đặt ra câu hỏi cho chính mình và đó chính là động lực thôi thúc tác giả hoàn thiện Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Pháp luật khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng PL khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp PL khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh