Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

TÓM TẮT

1. Tiêu đề:

Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.

2. Tóm tắt:

Lý do chọn đề tài nghiên cứu: Hiện nay, hành lang pháp lý liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo vẫn chưa được hoàn thiện. Căn cứ vào những đóng góp quan trọng mà DNNVVKNST mang lại và những khó khăn về mặt pháp luật và thực tiễn mà loại hình doanh nghiệp này đang gặp, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật kinh tế của mình. Mục tiêu nghiên cứu: Tác giả muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cũng như sự cần thiết phải ban hành các quy định về hỗ trợ DNNVVKNST để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn “Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện dựa trên việc sử dụng chủ yếu phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx-Lenin. Kết quả nghiên cứu: Nội dung nghiên cứu của luận văn có thể được ứng dụng trong thực tiễn xây dựng chính sách, sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành về hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, luận văn cũng là tài liệu tham khảo có giá trị, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong các cơ sở đào tạo luật học ở bậc đại học và sau đại học.

3. Từ khóa:

Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

ABSTRACT

1. Title:

Legal Framework for Supporting Small and Medium-sized Innovative Startups from the Practical Context of Ho Chi Minh City.

2. Abstract:

Rationale for the research topic selection: The current legal landscape concerning small and medium-sized innovative startup enterprises remains incomplete and inadequately developed. Recognizing the significant contributions of small and medium-sized innovative startups and the legal and practical challenges they encounter, the author has chosen the topic “Legal Framework for Supporting Small and Medium-sized Innovative Startups from the Practical Context of Ho Chi Minh City” for their master’s thesis in economic law. Research objectives: The author intends to elucidate the fundamental theoretical issues concerning legal provisions to support small and medium-sized enterprises (SMEs) and innovative startup ventures, as well as the imperative need for the enactment of regulations pertaining to the assistance of SMEs and innovative startups to meet the demands of Vietnam’s industrialization, modernization, and international economic integration. Research methodology: The thesis “Legal Framework for Supporting Small and Medium-sized Innovative Startups from the Practical Context of Ho Chi Minh City” employs primarily dialectical materialism and historical materialism, derived from the Marxist-Leninist ideology. Research outcomes: The research content of the thesis holds practical applications for formulating policies, amending and supplementing existing legal provisions related to supporting small and medium-sized innovative startups. Furthermore, the thesis serves as a valuable reference for studying, teaching, and learning legal aspects of supporting small and medium-sized innovative startups in undergraduate and postgraduate legal education institutions.

3. Keywords: Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Innovative startup enterprises; Small and medium-sized innovative startups.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường cạnh tranh, khuyến khích sáng tạo và phát triển công nghệ, tạo thêm công ăn việc làm và tăng nguồn thu cho ngân sách. Từ nhiều thập kỷ trước, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã xác định vai trò quan trọng của khởi nghiệp sáng tạo, từ đó có các biện pháp để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động khởi sự kinh doanh, với ưu tiên dành cho các hoạt động đầu tư – kinh doanh có yếu tố sáng tạo, sử dụng công nghệ, có hiệu quả kinh tế cao.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là các tổ chức kinh tế năng động nhất trên thị trường, chính nhóm này tạo thêm động lực và khả năng cạnh tranh cho hệ thống kinh tế trên cơ sở tận dụng thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại, nắm bắt xu hướng phát triển mới dẫn đến vị thế của các công ty truyền thống bị đe dọa. Chính điều này đưa đến động lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc nắm bắt tri thức nhân loại và tận dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản phẩm, dịch vụ.

Tại hội thảo bàn giải pháp thu hút nguồn lực trong nước và quốc tế cho khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam mới diễn ra, bà Phan Hoàng Lan, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ nhấn mạnh: Tại Việt Nam, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang phát triển mạnh mẽ, Việt Nam hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tăng gần gấp đôi so với số liệu ước tính cuối năm 2015.

Đồng thời, số lượng và chất lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cũng ngày càng tăng, thể hiện ở số lượng các thương vụ đầu tư, số lượng vườn ươm, khu làm việc chung… Việt Nam hiện có khoảng 30 cơ sở ươm tạo (BI) và 10 tổ chức thúc đẩy kinh doanh (BA), tăng thêm 10 vườn ươm và 3 tổ chức thúc đẩy kinh doanh so với năm 2016 với những vườn ươm tiêu biểu như: Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao Hòa Lạc; Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh; Vườn ươm Đà Nẵng (DNES); Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp (BSSC); Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ thông tin đổi mới sáng tạo Hà Nội… Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Sự hiện diện của các nhà đầu tư quốc tế cho khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam rất lớn, theo thống kê của tổ chức Topica Founder Institute (TFI), năm 2017, Việt Nam tiếp nhận 92 thương vụ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo với tổng số vốn hơn 291 triệu USD, tăng gần gấp đôi về mặt số lượng thương vụ và gần 50% về mặt tổng số vốn đầu tư so với năm 2016 (50 thương vụ với 205 triệu USD), trong đó phải kể đến: Kyber Network – nền tảng giao dịch phân cấp mới đáng tin cậy dựa trên công nghệ chuỗi khối; Foody – Mạng xã hội kết nối chia sẻ ẩm thực….Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025” (Đề án 844) – ISEV được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 đánh dấu động thái cụ thể của Chính phủ để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST. Đề án 844 (ISEV) có mục tiêu tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới; Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Thiết lập được Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia. Đến năm 2025, Đề án 844 (ISEV) dự kiến hỗ trợ phát triển 2.000 dự án khởi nghiệp ĐMST; 600 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST; 100 doanh nghiệp tham gia Đề án gọi được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 2.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, có khoảng 40 quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, phần lớn là các quỹ đầu tư nước ngoài. Số lượng và hoạt động của nhà đầu tư thiên thần ở Việt Nam tuy chưa nhiều nhưng bắt đầu có xu hướng tăng, với nhận diện chủ yếu là những doanh nhân khởi nghiệp đã thành công ở thế hệ đầu mong muốn đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở thế hệ sau. Hoạt động của các nhà đầu tư thiên thần ở Việt Nam đã bắt đầu có tính hệ thống hơn qua việc phát triển một số hoạt động liên kết, kết nối, hình thành một số câu lạc bộ, mạng lưới đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo như: VIC Impact, iAngel, Angel4us…

Cũng theo bà Phan Hoàng Lan, thời gian qua, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã phối hợp với Văn phòng Đề án 844 hỗ trợ quảng bá và giới thiệu các start-up tiêu biểu tham gia các diễn đàn kết nối với kiều bào, tri thức quốc tế; kết nối quốc tế qua các vườn ươm, cơ sở thúc đẩy kinh doanh, đại sứ quán… để đẩy mạnh hợp hợp tác quốc tế trong thời gian tới.

Ông Phạm Dũng Nam, Giám đốc Văn phòng Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” (Đề án 844) cho rằng: Số lượng giao dịch có sự tham gia của nhà đầu tư quốc tế chiếm hơn 30% tổng số giao dịch nhưng giá trị đầu tư từ quốc tế lớn hơn nhiều so với đầu tư trong nước. Hiện có nhiều startup gọi vốn quốc tế thành công nhưng việc thu hút nguồn lực, thúc đẩy hợp tác quốc tế, kết nối với hệ sinh thái quốc tế hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam rất quan trọng, đặc biệt khi các startup Việt đang ngày càng hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài.

Thời gian tới, Đề án 844 hướng tới mở rộng kết nối vùng, liên vùng, quốc gia và quốc tế để thu hút nguồn nhân lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam; nghiên cứu xây dựng chính sách thị thực cho cá nhân người nước ngoài tới Việt Nam để xây dựng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đầu tư và tìm kiếm cơ hội đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, ngược chiều với những chuyển động tích cực của khối tư nhân trong hoạt động khởi nghiệp, tốc độ chuyển động của chính sách, đặc biệt là cải thiện môi trường pháp lý lại không đồng tốc với nhịp độ phát triển sôi động của làn sóng khởi nghiệp trong thời gian qua. Hành lang pháp lý liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo còn trống, vẫn chưa được hoàn thiện, những chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp vốn được đề cập đến từ lâu vẫn còn nằm trên giấy.

Căn cứ vào những đóng góp quan trọng mà doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo mang lại và những khó khăn về mặt pháp luật và thực tiễn mà loại hình doanh nghiệp này đang gặp, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật kinh tế của mình.

2. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

2.1. Mục tiêu tổng quát:

Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cũng như sự cần thiết phải ban hành các quy định về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Thực trạng pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, thực tiễn thi hành tại Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

  • Để đạt được mục tiêu chung đã nêu trên, các mục tiêu cụ thể của luận văn được xác định cụ thể như sau:

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa và sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những vướng mắc, bất cập tồn tại của các quy định pháp luật hiện hành về và sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam và các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thi hành các quy định pháp luật về và sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

3. Câu hỏi nghiên cứu:

  • Luận văn được triển khai với những câu hỏi nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là gì? Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay thế nào? Tại sao cần phải có sự hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn hiện nay? Pháp luật về sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là gì? Tại sao phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo? Nội dung, nguyên tắc của pháp luật về sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là như thế nào?

Thứ hai, nội dung của pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo gồm những quy định nào? Thực tiễn thi hành các quy định này ra sao, đã đạt được những kết quả thế nào, những quy định nào chưa phát huy được hiệu quả và nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nào?

Thứ ba, hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cần phải thực hiện trên những định hướng nào và giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành như thế nào? Để nâng cao hiệu quả thi hành quy định pháp luật về sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cần phải thực hiện những giải pháp cơ bản nào?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

  • Với đề tài “Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” thì luận văn có đối tượng nghiên cứu như sau:
  • Đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân, về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.
  • Các quy định pháp luật đã hết hiệu lực thi hành về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.
  • Các quy định pháp luật hiện hành về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, bao gồm: quy định pháp luật về hỗ trợ tín dụng; quy định pháp luật về hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; quy định pháp luật về hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; quy định pháp luật về hỗ trợ mặt bằng sản xuất…

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung: Tác giả nghiên cứu các quy định của pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, tập trung vào các vấn đề: Hỗ trợ vốn; Hỗ trợ tín dụng; Hỗ trợ thuế; Hỗ trợ khác (Sở hữu trí tuệ, chuyển giao khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng, giao thông..).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Tác giả nghiên cứu luận văn này trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh và các văn bản quy phạm pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ khi có Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn được thực hiện dựa trên việc sử dụng chủ yếu phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx-Lenin. Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn, để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm tính khách quan, chân thực.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong quá trình nghiên cứu: đó là phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học, lịch sử, chính trị); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp xã hội học pháp luật. Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận văn kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận văn. Tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, tác giả lại sử dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khác nhau để làm rõ các vấn đề, nội dung của chương đó, cụ thể:

Chương 1: Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học, chính trị); phương pháp luật học so sánh; phương pháp xã hội học pháp luật đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về hỗ trợ và vai trò hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, những yếu tố tác động đến sự hỗ trợ của Nhà nước. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Chương 2: Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp luật học so sánh để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; xác định tiêu chí và các nguyên tắc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, đưa ra những nhận xét, đánh giá cơ bản về thực tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam.

Chương 3: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp đối chiếu xác định định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

6. Nội dung nghiên cứu

Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung của pháp luật về hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Nội dung chương 1: Doanh nghiệp khởi nghiệp là đại diện cho mô hình kinh doanh mới, là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng năng suất trong xã hội dựa trên tri thức và công nghệ. Đó là hình thức phù hợp nhất để thực hiện các phát minh, sáng kiến và đó là cơ chế tốt nhất để thương mại hóa các công nghệ mới, đưa các thành tựu khoa học kỹ thuật vào cuộc sống, đóng góp vào sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới và sự phát triển của nền kinh tế tri thức, sáng tạo.

Nội dung Chương này phân tích những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Sau phần trình bài những nội dung nội hàm cơ bản của khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp, những đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Tác giả phân tích một số chính sách và bài học khởi nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo của một số Quốc gia trên Thế Giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Chương 2. Thực trạng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Nội dung chương 2: Doanh nghiệp khởi nghiệp là đại diện cho mô hình kinh doanh mới, là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng năng suất trong xã hội dựa trên tri thức và công nghệ. Tác giả phân tích thực trạng hiện nay của pháp luật về hỗ trợ ưu đãi tín dụng, vốn, thuế và một số ưu đãi khác đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Cần đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn cả nước theo hướng linh động, mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa, và cần sự kết hợp giữa nhà nước và khu vực doanh nghiệp tư nhân, nhằm hỗ trợ tốt hơn, làm bệ phóng tốt hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo vươn tầm thế giới. Nhà nước cần xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp và vườn ươm các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo với mục tiêu thúc đẩy một quốc gia khởi nghiệp, mỗi một trường đại học là một vườn ươm doanh nghiệp. Với tiềm năng hiện có, nếu có những bước đi phù hợp để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ là bước đi có giá trị đột phá cho nền kinh tế, hệ sinh thái khởi nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ tạo được những thành tích ấn tượng.

Các quy định pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp cần được sự quan tâm đặc biệt nhằm xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh và đủ sức hỗ trợ để doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng và hệ sinh thái khởi nghiệp nói chung trở thành nền tảng của nền kinh tế, động lực thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và khẳng định vị thế của quốc gia trên bản đồ thế giới.

Chương 3. Hoàn thiện quy định pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chương 3: Có thể nhận thấy rằng Chính phủ Việt Nam đang quyết tâm đẩy mạnh việc thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, và coi việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là mục tiêu chính trị tiên quyết và quan trọng trong thời kì mới.

Luận văn tập trung phân tích và đánh giá việc thi hành pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhằm hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý cho việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo được tốt hơn và thật sự thiết thực. Trong chương 3 luận văn làm rõ những thực trạng đề cập ở chương 2, đưa ra những quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo vẫn còn những hạn chế nhất định. Hạn chế lớn nhất là việc chưa có luật dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc thực thi và áp dụng các chính sách, giúp cho việc thu hút đầu tư từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư thiên thần chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Các chính sách quy định nhiều về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo song từ quy định pháp luật đến thực thi trên thực tế là cả một quá trình đầy gian nan, đòi hỏi nguồn lực tài chính và con người cũng như nỗ lực và sự quyết tâm của từng bộ, ngành, địa phương. Dù triển khai theo hình thức nào thì việc bố trí nguồn kinh phí để thực hiện các hoạt động hỗ trợ cũng là một vấn đề các địa phương đều phải quan tâm, nếu không muốn nói là đặc biệt lưu ý.

7. Đóng góp của luận văn: Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

  • Luận văn có nhiều đóng góp mới cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, cụ thể:

Luận văn đã phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và sự hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, xác định các nguyên tắc, nội dung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đảm bảo sự bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế;

Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra những kết quả và hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời xác định nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó;

Luận văn đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong công tác xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật trong giai đoạn hiện nay;

Với những đóng góp trên, luận văn có thể được ứng dụng trong thực tiễn xây dựng chính sách, sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành về hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, luận án cũng đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong các cơ sở đào tạo luật học ở bậc đại học và sau đại học.

8. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó có nhóm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được Quốc hội thông qua tháng 6/2017 chính thức tạo cơ sở pháp lý cho việc hỗ trợ nhóm doanh nghiệp mới, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Vì tính mới của loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hệ thống pháp luật hỗ trợ vẫn đang trong giai đoạn xây dựng và từng bước hoàn thiện để hướng dẫn công tác quản lý của nhà nước và hỗ trợ cho loại hình doanh nghiệp mới này. Chính vì vậy chưa có nhiều bài viết, nghiên cứu về pháp luật hỗ trợ đối với loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam trong giai đoạn trước đây mà chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ năm 2016 trở lại đây.

Một số bài viết, nghiên cứu có liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong thời gian qua:

  • VCCI (2017), Báo cáo nghiên cứu cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Kinh nghiệm quốc tế – Đề xuất giải pháp cho Việt Nam.

Báo cáo được thực hiện với mục tiêu đánh giá hiện trạng và dự kiến chính sách đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam, lựa chọn và phân tích kinh nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của các Chính phủ nước ngoài, từ đó đề xuất mô hình, cơ chế hỗ trợ từ góc độ Nhà nước cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trước hết là cho các Nghị định hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và sau đó là các văn bản pháp luật, chính sách liên quan (các Thông tư, Nghị quyết, Quyết định, Đề án… của các cấp có thẩm quyền) liên quan tới nhóm doanh nghiệp đặc biệt này.

  • Đặng Bảo Hà, Cục Thông tin KH&CN Quốc Gia (2015), Xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp: vai trò của chính sách chính phủ.

Tác giả đã tổng hợp các tài liệu về tinh thần kinh doanh và hệ sinh thái khởi nghiệp của OECD và của một số nước có kinh nghiệm xây dựng thành công các hệ sinh thái khởi nghiệp, cung cấp khái niệm toàn diện, các đặc điểm và các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp và vai trò của chính sách chính phủ trong việc phát triển thành công các hệ sinh thái khởi nghiệp.

  • Trần Lương Sơn, Chu Thái Hòa (2016), Nhà nước và khởi nghiệp: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.

Tác giả đã cung cấp thông tin một cách tổng quan về phong trào khởi nghiệp tại Việt Nam, chỉ ra các yếu tố cơ bản của khởi nghiệp kinh doanh, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, kinh nghiệm hỗ trợ khởi nghiệp của một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam.

  • Lê Minh Hương (2017), Chính sách tài chính hỗ trợ DN khởi nghiệp: Kinh nghiệm một số nước và gợi ý cho Việt Nam

Tác giả đã cung cấp thông tin đầy đủ về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của một số nước trên thế giới bao gồm các chính sách ưu đãi về thuế, chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ gián tiếp thông qua mô hình vườn ươm và một số chính sách hỗ trợ khác. Từ đó tác giả đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thông qua chính sách thuế, tín dụng và một số chính sách khác.

  • Dương Ngọc Hồng (2019), “Thực trạng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam: Khó khăn và giải pháp”, Tạp chí Công thương. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (ĐMST) hiện trở thành một từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất tại nhiều quốc gia trong những năm gần đây. Trong đó, Việt Nam xác định tinh thần khởi nghiệp ĐMST là yếu tố cốt lõi tạo ra thành công của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, các chỉ số về khởi nghiệp ĐMST của Việt Nam vẫn còn đứng sau nhiều nước trong khu vực như Singapore, Malaysia. Đi liền đó là cơ chế chính sách vẫn chưa thực sự tạo ra cú hích mạnh cho hoạt động khởi nghiệp. Nội dung chủ yếu của bài báo tập trung phân tích hiện trạng thúc đẩy khởi nghiệp ĐMST tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những bất cập cũng như thách thức hiện nay. Cuối cùng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ĐMST.

  • Nguyễn Thu Hà (2019), “Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí công thương.

Bài viết trình bày khái niệm và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Đồng thời, bài viết cũng trình bày thực tiễn thi hành pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh để phân tích một số yếu tố tác động trực tiếp quá trình hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp. Từ đó, bài viết hàm ý một số giải pháp về nâng cao pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp trong xu thế kinh tế hội nhập.

  • Bùi Lệ Giang (2020), “Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo”, Tạp chí Công thương.

Bài viết bàn về việc cần có những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn hiện nay. Phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được Chính phủ coi là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và liên tục. Để thực hiện được tốt nhất việc doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, cần có phương hướng và giải pháp thực hiện cụ thể hơn nữa, sự quyết liệt hơn nữa của cả hệ thống chính trị. Việc thực hiện đồng loạt các nhóm giải pháp sẽ tác động trực tiếp và có hiệu quả cao đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Với việc tham gia hàng loạt các FTA thế hệ mới, việc hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo sẽ mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có cơ hội tiếp cận với vốn, với thị trường quốc tế, nhằm tránh trường hợp doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo bị “chết” từ trong chính thị trường Việt Nam khi không cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

  • Đặng Thị Thùy Dương (2020), “Khởi sự kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ đứng trước lựa chọn giữa khởi nghiệp kinh doanh độc lập với nhượng quyền thương mại”, Tạp chí Công thương.

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế mở ra nhiều cơ hội, cách thức kinh doanh mới, đồng thời cũng mang đến nhiều sự lựa chọn hơn như việc bắt đầu hoạt động kinh doanh làm chủ, làm đại lý, hay xu thế mới là làm người nhận nhượng quyền? Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) tại Việt Nam đã phát triển mạnh trong thời gian qua, đặc biệt từ khi Luật Thương mại sửa đổi có hiệu lực làm cho hệ thống kinh doanh có nhiều khởi sắc với nhiều loại hình kinh doanh đa dạng. Tuy nhiên, mô hình NQTM vẫn còn nhiều mới mẻ đối với các chủ đầu tư tại Việt Nam, chính vì vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn băn khoăn giữa chọn lựa kinh doanh độc lập với NQTM. Bài viết giới thiệu những vấn đề liên quan đến NQTM, tiếp đến là các mô hình NQTM, cũng như các yếu tố quyết định chọn lựa đầu tư giữa kinh doanh độc lập với NQTM của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.

  • Phan Quan Việt, Trác Anh Hào (2020), “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận”, Tạp chí Công thương.

Ngày nay, với sự hội nhập quốc tế, xu hướng toàn cầu hóa của tất cả các quốc gia, Việt Nam đang dần chuyển mình theo nền kinh tế thị trường, môi trường làm việc có nhiều thay đổi so với trước đây, nhiều người muốn làm việc độc lập và coi đó là hướng đi thành công của mình. Hiện trạng về giải quyết việc làm cho sinh viên ra trường đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay của Việt Nam nói chung và địa bàn tỉnh Bình Thuận nói riêng. Thực tế, số lượng trường cao đẳng và đại học trên địa bàn tỉnh tăng lên, tính đến nay, toàn tỉnh có 1 trường đại học, 2 trường cao đẳng. Bởi vậy, khởi nghiệp là hướng đi được nhiều bạn sinh viên lựa chọn, tuy nhiên có nhiều bạn trẻ chưa biết phải bắt đầu từ đâu và như thế nào. Vì những lí do trên, tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận”.

Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài: “Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy đây là vấn đề mới mẽ, một số nhà khoa học cũng như các công trình nghiên cứu, luận văn tiến sỹ, thạc sỹ cùng nhiều bài viết nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách với những cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào tập trung nghiên cứu sâu về pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

9. Bố cục của luận văn: Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Luận văn “Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện gồm ba phần gồm: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận. Ở phần nội dung, luận văn cấu trúc gồm ba chương:

  • Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo
  • Chương 2. Thực trạng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và thực tiễn áp dụng tại thành phố hồ chí minh
  • Chương 3. Hoàn thiện quy định pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO

1.1. Các vấn đề cơ bản về hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

  • Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Trong những năm gần đây, khởi nghiệp được xem là phong trào của toàn xã hội khi mục tiêu phát triển kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng của Chính phủ. Hoạt động khởi nghiệp có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo cổng thông tin điện tử khởi nghiệp quốc gia, khởi nghiệp là khi bạn có ý định tự mình có một công việc kinh doanh riêng, bạn muốn tự mình làm và quản lý tự kiếm thu nhập cho mình. Bạn cung cấp và phát triển một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, mua bán lại một sản phẩm hay cửa hàng đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó. Khởi nghiệp cũng có nghĩa là bạn tạo ra giá trị có lợi cho người cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng đồng và nhà nước. Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội.

Khởi nghiệp còn có thể là bạn tự mở cho mình một cửa hàng như bún bò, phở, xôi sáng, quán cafe, tiệm Internet, cửa hàng mỹ phẩm, cửa hàng tiêu dùng hay mở trang trại trồng cây, chăn nuôi, xưởng sản xuất một mặt hàng nào đó hay đơn giản bạn chỉ thương mại tức mà mua đi bán lại …Khởi nghiệp là bạn vừa là nhân viên vừa là ông chủ hoặc cao hơn bạn tự thành lập doanh nghiệp riêng cho mình rồi tuyển nhân viên vào cùng làm. Vì vậy khởi nghiệp cũng chính là bạn bắt đầu làm chủ. Khởi nghiệp cũng chính là một công việc kinh doanh của bạn vì nó liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường để bạn có thu nhập. Sáng tạo đơn giản là dám làm ra một cái gì mới mẻ, khác thường nhưng vẫn rất hữu ích. Sáng tạo không dừng lại ở việc lên ý tưởng, là cả một quá trình hành động, suy nghĩ, say mê tìm tòi và nghiên cứu, luôn tìm ra những cái mới để đạt hiệu quả tốt nhất. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.

Theo ông Trương Gia Bình, Chủ tịch tập đoàn FPT: “Một bên là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, một bên hiểu là lập nghiệp (Entrepreneurship). Lập nghiệp cũng có thể trở thành doanh nghiệp cực kỳ lớn. Còn nói đến startup phải nói đến đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến điều thế giới chưa từng làm.” Còn theo ông Bùi Thế Duy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp phải dựa trên một công nghệ mới hoặc tạo ra một hình thức kinh doanh mới, xây dựng một phân khúc thị trường mới, nghĩa là phải tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới.” Qua các phát biểu trên, có thể thấy yếu tố tăng trưởng và ứng dụng khoa học công nghệ được nhấn mạnh và là điểm tạo nên sự khác biệt giữa khởi nghiệp truyền thống và KNST.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo (“DNNVVKNST”) được mô tả là loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới. Theo khoản 2 Điều 3 Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH ngày 12 tháng 06 năm 2017 (“Luật SME”) định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh”.

Ở góc độ pháp lý, pháp luật Việt Nam quy định, định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tại khoản 2 Điều 3 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh.” Nếu bỏ qua yếu tố nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 được xác định theo 03 tiêu chí: (1) Một là, tư cách pháp lý phải là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp; (2) Hai là, về hoạt động, phải dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới; (3) Ba là, về triển vọng, phải có tính đột phá, tăng trưởng nhanh. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 94/2020/NĐ – CP quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với trung tâm ĐMST quốc gia như sau: “DNNVVKNST là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh.”

Như vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo được định nghĩa là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp để thực hiện ý tưởng dựa trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh. Các doanh nghiệp này có khả năng tăng trưởng nhanh do có các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa.

  • Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Tính đột phá và sáng tạo: một xu hướng tất yếu trong hoạt động kinh doanh thời đại công nghệ số 4.0, thông thường doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tạo ra một thứ gì đó chưa có trên thị trường kinh tế, độc quyền hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn với các giá trị đang có sẵn. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, tính đột phá là điều bắt buộc, đây còn là tiềm năng thể hiện sự phát triển và ưu thế của mình. Đây là điểm mạnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo hơn các doanh nghiệp truyền thống, hay các doanh nghiệp mang tính chất ổn định, cũng là yếu tố thu hút sự quan tâm của những khách hàng, người lao động, truyền thông, quỹ đầu tư và chính sách của Nhà nước;

Tiềm năng tăng trưởng: vấn đề lợi nhuận là mục tiêu đối với toàn bộ doanh nghiệp, không chỉ riêng đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp. Đây còn là vấn đề sống còn của một doanh nghiệp. doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo xem mình là người khai phá thị trường, họ tạo ra ảnh hưởng, tác động lớn. Một doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ không đặt ra giới hạn cho sự tăng trưởng, họ có quyền tham vọng phát triển đến mức lớn nhất có thể. doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ không giống các doanh nghiệp ổn định, vì muốn tăng trưởng và thịnh vượng, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo phải có khả năng cung cấp giá trị cho xã hội, tiếp cận khách hàng nhanh nhất và hiệu quả nhất, sẵn sàng thay đổi khi thế giới cập nhật xu thế, thay đổi thị trường hay thay đổi công nghệ.

Về vốn đầu tư: thông thường các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh của mình từ chính tiền túi của người sáng lập, hoặc đóng góp từ gia đình, người thân và bạn bè. Một số trường hợp thì gọi vốn từ cộng đồng. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đều phải gọi vốn từ các nhà đầu tư thiên thần và quỹ đầu tư mạo hiểm qua nhiều vòng gọi vốn khác nhau. Công nghệ thường là đặc trưng tiêu biểu của sản phẩm từ một doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Dù vậy, ngay cả khi sản phẩm không dựa nhiều vào công nghệ, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cũng cần áp dụng công nghệ để đạt được mục tiêu kinh doanh cũng như tham vọng tăng trưởng. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Về mô hình kinh doanh: doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo vẫn đang trong quá trình đi tìm những mô hình kinh doanh thực sự phù hợp với thị trường. Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo không phải là doanh số như những doanh nghiệp truyền thống khác mà là tìm ra được một mô hình kinh doanh và quy trình làm việc hiệu quả nhất. Để làm được điều này, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo phải không ngừng thử nghiệm, cải tiến và thực hiện những cách làm mới. Việc có được một mô hình kinh doanh tốt được xem là vấn đề then chốt, bởi nhà đầu tư sẽ xem xét rất kỹ cách kiếm tiền, cách vận hành công ty của những doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trước khi quyết định đầu tư vào một dự án mà họ tin tưởng sẽ đem lại lợi nhuận trong tương lai.

Tính rủi ro cao và cách tiếp cận: với loại hình doanh nghiệp quy mô còn nhỏ, tiềm lực còn yếu, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, rủi ro rất cao trong quá trình thành lập và hoạt động. Quá trình khởi nghiệp là giai đoạn khó khăn nhất của một doanh nghiệp. Trong thời kì này, họ rất khó tiếp cận với nguồn vốn, thiếu kinh nghiệm trong quản lý điều hành cũng như đưa ra con đường phát triển doanh nghiệp; cùng với đó khởi nghiệp gắn liền với cái mới, với khoa học công nghệ nên tính rủi ro, sự thất bại trong khởi nghiệp là rất cao. Tuy nhiên, một đặc điểm rất tích cực của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong hoàn cảnh khó khăn đó là doanh nghiệp được xây dựng để sẵn sàng đối diện và giải quyết những thách thức, rủi ro gặp phải. Đây là cách để những doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trưởng thành hơn và học được nhiều bài học quý báu. Việc tìm ra được mô hình kinh doanh hiệu quả cũng đến từ cách mà khởi nghiệp giải quyết những rủi ro trong quá trình phát triển.

  • Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Thứ nhất, động lực chính phát triển kinh tế, thúc đẩy nang suất trong kinh tế – xã hội dựa trên trí thức, công nghệ và con người. Bất kỳ một tập đoàn, công ty lớn nào cũng phải trải qua bước đầu tiên là khởi nghiệp sáng tạo. Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thường cao hơn rất nhiều các doanh nghiệp khác. Tại một số quốc gia, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo được xem là xương sống của cả một nền kinh tế. doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo khi thành công sẽ phát triển nhanh chóng trở thành các doanh nghiệp lớn đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ. doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là nền tảng để phát triển kinh tế và ổn định xã hội trong thời đại công nghiệp 4.0. Với sự tiếp sức của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và thương mại điện tử thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ là khu vực cạnh tranh lớn nhất, sáng tạo lớn nhất vì nó huy động được toàn bộ nguồn lực cho xã hội và cho phát triển.

Thứ hai, là các tổ chức kinh tế năng động nhất trên thị trường, động lực cạnh tranh. Tính linh hoạt của của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đã tạo ra tính năng động của nền kinh tế. Việc chuyển đổi nhanh chóng nhằm lấp các khoảng trống của thị trường đã nói lên vai trò ổn định kinh tế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Sự ra đời của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, làm giảm sự độc quyền buộc các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ tăng tính cạnh tranh. Các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới để tồn tại và phát triển. Với sự linh hoạt của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ tạo ra sức hút cạnh tranh, thậm chí cạnh tranh với các công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia. Đây là những tiền đề đầu tiên làm thay đổi về công nghệ tạo ra nhiều đổi mới trong nền kinh tế. doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo giúp trẻ hóa nền kinh tế già cỗi, bị chi phối bởi các tập đoàn lớn xuyên quốc tế. Thông qua các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo Chính phủ các nước thổi một làn 17 gió mới, tăng cường đổi mới sáng tạo, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới, nhiều lĩnh vực ngành nghề mới.

Thứ ba, kết nối chặt chẽ với các tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ. doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo dựa trên nguyên tắc của việc phát triển công nghệ và ứng dụng khoa học, nhằm tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề tốt nhất cho xã hội. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Thứ tư, khai thác tốt hơn nguồn lao động, nguồn vốn và thị trường. Đặc điểm chung của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là sử dụng ít lao động, tuy nhiên với số lượng DNKN lớn sẽ giải quyết được số lượng lớn lao động đặc biệt là nguồn lao động trẻ có trình độ. Rõ ràng, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo không chỉ mang lại lợi ích cho chính doanh nghiệp họ, mà còn đem lại các lợi ích về kinh tế, xã hội. Về vồn đầu tư, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thu hút đầu tư phát triển kinh tế bằng các thương vụ đầu tư, đặc biệt là thương vụ đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài góp phần không nhỏ cho việc tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Thứ năm, khai thác tối đa trí tuệ con người, tinh thần làm giàu, ước mơ vươn mình ra thế giới. Sự giàu có của các quốc gia nhờ vào sự phát triển của doanh nghiệp, mà sự phát triển của doanh nghiệp là nhờ vào nguồn lực con người. Việc bắt đầu một công việc kinh doanh như một cơ hội nghề nghiệp mơ ước của nhiều bạn trẻ hiện nay.

1.1.2. Khái niệm và vai trò của việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

  • Khái niệm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thì hỗ trợ được hiểu là “giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào Như vậy, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo có thể được hiểu là việc Nhà nước đưa ra các chính sách, biện pháp để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thành lập doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, đào tạo nhân lực, nghiên cứu, phát triển ý tưởng, sản phẩm, tham gia thị trường và phát triển thị trường, trở thành những doanh nghiệp thực thụ, mang lại doanh thu cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư, tăng tính cạnh tranh và có chỗ đứng nhất định trên thị trường, bảo đảm cho sự tồn tại của doanh nghiệp. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

  • Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo có một số đặc điểm chính như sau:

Một là, các biện pháp này phải nhằm mục đích giải quyết những khó khăn mà đại đa số hoặc một bộ phận lớn doanh nghiệp cùng gặp phải chứ không phải chỉ của một vài doanh nghiệp. Điều này giúp cho các biện pháp hỗ trợ có tính chất công bằng với tất cả các doanh nghiệp, tránh tình trạng lợi ích nhóm.

Hai là, các biện pháp hỗ trợ này phải giúp đỡ hiệu quả, tháo gỡ được những khó khăn của doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp trong quá trình thành lập, tiếp cận, gia nhập, hoạt động để tăng tính cạnh tranh trên thị trường.

Ba là, chủ thể giúp đỡ doanh nghiệp không phải chỉ là Nhà nước thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước mà còn là của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Trong đó bao gồm các cơ quan, đơn vị, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc, trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng thực hiện các hoạt động liên quan đến hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

  • Vai trò của hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Có thể thấy vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo ở nước ta là hết sức quan trọng, đóng góp một phần to lớn vào nền kinh tế Việt Nam qua các phân tích ở trên. Đi cùng với quyết tâm của Đảng và Nhà nước đã xác định chủ trương “đổi mới sáng tạo” xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cũng như chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là một trong những mũi nhọn để phát triển, đưa ra rất nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ. Bên cạnh đó, trong những năm qua, lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng đóng góp vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nhất là trong duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm, ổn định đời sống nhân dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cùng sự phát triển của lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, vai trò, vị thế và uy tín của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được khẳng định. Do đó, vai trò của việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cũng vô cùng quan trọng và cần được quan tâm nghiêm túc. Cụ thể:

Thứ nhất, KNST là một quá trình thực sự khó khăn và rủi ro, tỷ lệ thành công của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo hiện nay là không quá 10%. Giai đoạn khởi sự là thời gian gian nan nhất trong vòng đời của các dự án khởi nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đều thiếu kinh nghiệm, gặp nhiều khó khăn về thủ tục pháp lý, đặc biệt là khả năng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư còn thấp mà hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này đều cần đến vốn do đặc điểm kinh doanh gắn với công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới.

Nếu không giải quyết được các khó khăn đó thì các ý tưởng khởi nghiệp rất khó để triển khai và biến thành hiện thực. Do vậy, sự hỗ trợ kịp thời cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là hết sức cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc thành bại của doanh nghiệp. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Thứ hai, giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tiếp cận hiệu quả với các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh. Đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo chưa quan tâm hoặc chưa có điều kiện tìm hiểu các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực của doanh nghiệp.

Thứ ba, thúc đẩy tinh thần và khả năng khởi nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và của mỗi người. Nếu có sự hỗ trợ kịp thời cho các ý tưởng hay, sáng tạo thì sẽ tạo nên một động lực rất lớn cho mỗi người, hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp rộng và lan tỏa. Không những thế, có sự hỗ trợ sẽ giúp định hướng các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, tận dụng và phát huy tối đa nguồn nhân lực một cách hiệu quả. Từ đó, giải quyết định bài toán “lãng phí” nhân lực, ý tưởng sáng tạo được đánh giá cao mà gặp trở ngại nên bỏ lỡ cơ hội đóng góp lợi ích, giá trị gia tăng cho xã hội.

Thứ tư, kết nối các nguồn lực hỗ trợ hoạt động KNST. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ phát triển rất nhanh và bền vững khi nhận hỗ trợ từ các cơ quan, đơn vị trong và ngoài khu vực Nhà nước. Ví dụ các hình thức hỗ trợ như huy động, kết nối các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức tài chính, tư vấn của các chuyên gia, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần.

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Môi trường chính trị. Yếu tố trước tiên và cũng quan trọng nhất của một hệ sinh thái hỗ trợ DNNKNST đó là chính sách của chính phủ. Điều này không chỉ liên quan đến các lĩnh vực quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ hay tinh thần khởi nghiệp, mà đối với một phạm vi rộng các chính sách liên quan đến hệ thống thuế, các dịch vụ tài chính, viễn thông, giao thông, thị trường lao động, hỗ trợ công nghiệp, giáo dục và đào tạo, cơ sở hạ tầng và y tế. Việc tổ chức thực hiện chính sách doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đòi hỏi sự chung tay đồng bộ của các ngành, lĩnh vực ở các cấp.

Môi trường kinh tế, bao gồm điều kiện kinh tế của nhà nước, kết quả khả năng tăng trưởng của thị trường, môi trường kinh tế quốc tế.

Môi trường xã hội. Phong trào khởi nghiệp ngày càng sôi nổi và bắt đầu phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Đây là điểm thuận lợi cho chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhanh chóng đi vào đời sống, tạo làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ.

Môi trường công nghệ. Yếu tố cơ sở hạ tầng công nghệ là nền tảng để các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thành công. Các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao là môi trường để thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang bùng nổ mạnh mẽ công nghệ chính là phần hồn của doanh nghiệp nói chúng và doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nói riêng. Công nghệ sẽ là yếu tố để thực hiện tốt chính sách và làm doanh nghiệp bứt phá vươn tầm thế giới.

1.2. Pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

1.2.1. Khái niệm pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Pháp luật hỗ trợ các startup là chính sách cởi mở, linh hoạt các quy định, cơ chế và cách thức can thiệp của nhà nước để tạo thuận lợi cho các startup nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của các startup.

Ngược chiều với những chuyển động tích cực của khối tư nhân trong hoạt động khởi nghiệp, tốc độ chuyển động của chính sách, đặc biệt là cải thiện môi trường pháp lý lại không đồng tốc với nhịp độ phát triển sôi động của làn sóng khởi nghiệp trong thời gian qua. Hành lang pháp lý liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo còn trống, vẫn chưa được hoàn thiện, những chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp vốn được đề cập đến từ lâu vẫn còn nằm trên giấy.

Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để ghi nhận các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo với tính chất là các quy định, cơ chế, chính sách và cách thức can thiệp từ góc độ Nhà nước để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, qua đó thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Các biện pháp hỗ trợ mà Nhà nước các nước thực hiện đều tập trung vào việc giúp giải quyết các khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo phát triển trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội, nguồn lực thế mạnh của mỗi quốc gia. Tập trung vào các vấn đề chính sau: (1) Xây dựng pháp luật hỗ trợ về vốn, tín dụng; (2) Xây dựng pháp luật hỗ trợ về thuế; (3) Xây dựng pháp luật hỗ trợ về thông tin, tư vấn, pháp lý; (4) Xây dựng pháp luật hỗ trợ về tạo lập mặt bằng sản xuất (5) Xây dựng pháp luật hỗ trợ các lĩnh vực khác.

Có nhiều phương thức phân loại các quy định pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo như: (1) Phân loại theo đối tượng nhận hỗ trợ: Nhóm hỗ trợ dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và nhóm hỗ trợ cho tất cả các doanh nghiệp nói chung; (2) Phân loại theo tính bắt buộc: một số quy định mang tính bắt buộc, nhưng một số quy định chỉ khuyến khích thực hiện biện pháp hỗ trợ; (3) Phân loại theo đối tượng tác động: Một số biện pháp hỗ trợ tác động trực tiếp đến doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, một số lại phải thông qua bên thứ ba như ngân hàng, các quỹ, trung tâm hỗ trợ, cơ sở làm việc chung.; (4) Phân loại theo dạng hỗ trợ: hỗ trợ tài chính, hỗ trợ năng lực…

Theo pháp luật Việt Nam, chế định pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là một bộ phận của pháp luật kinh doanh thương mại và thuộc nhóm các chế định nhằm nâng cao năng lực, khả năng của doanh nghiệp. Các quy định pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo không được tồn tại như là một mảng pháp luật độc lập mà được quy định “rải rác” trong các văn bản pháp luật như: Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Công nghệ cao, các Nghị định hướng dẫn cụ thể… Để nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, pháp luật Việt Nam cũng theo xu thế chung, tập trung chủ yếu vào các vấn đề chính như đã nêu trên: hỗ trợ về vốn, tín dụng, thuế, pháp lý…

1.2.2. Nội dung pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Không phải mọi doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đều được hỗ trợ. Đồng thời, hỗ trợ không có nghĩa Nhà nước đem cho doanh nghiệp bao nhiêu tiền, mà là tạo cơ hội, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ một phần chi phí khi thực hiện hoạt động cụ thể nào đó.

Xuất phát từ đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, nội dung pháp luật hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo của nhiều nước trên thế giới tập trung vào các vấn đề như: cải thiện môi trường kinh doanh; hỗ trợ về tín dụng và tài chính; hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ; hỗ trợ nâng cao nguồn nhân lực; hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp… Do đó, để bắt kịp xu thế phát triển của thế giới trong thời đại 4.0, nước ta cũng đã quan tâm hơn và đưa ra nhiều biện pháp hỗ trợ cho đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Trong đó, các biện pháp hỗ trợ cấp thiết mà tác giả đề cập trong luận văn như sau: hỗ trợ về vốn, tín dụng, thuế, pháp lý.

  • Nhóm các quy định pháp luật về điều kiện để được nhận hỗ trợ

Đất nước ta là một nước đang phát triển, còn nhiều khó khăn, nguồn lực của Nhà nước là có giới hạn. Chính vì lý do đó, việc xác định các điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhận được sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước thông qua các hỗ trợ về tín dụng, hỗ trợ về thuế, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất hoặc hỗ trợ gián tiếp thông qua các chính sách hỗ trợ về vốn là hết sức quan trọng. Việc xác định điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhận được hỗ trợ sẽ giúp nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước được tập trung và dành cho đúng đối tượng, tránh hỗ trợ dàn trải gây thiếu hiệu quả.

  • Điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo được nhận hỗ trợ tập trung vào các vấn đề sau:

Một là, về quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Nguồn lực hỗ trợ là có giới hạn, chính vì vậy, quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo không quá lớn mới được nhận các hỗ trợ về vốn, nhằm đảm bảo các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhỏ có cơ hội nhận được sự hỗ trợ đầy đủ trong thời gian đầu thành lập. Tất nhiên, các hỗ trợ khác không tốn quá nhiều nguồn lực vẫn áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, không phân biệt quy mô.

Hai là, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo chưa chào bán chứng khoán ra công chúng . Các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo 15 khi chào bán chứng khoán ra thị trường thì cơ bản đã trở thành một công ty có quy mô, có giá trị thương hiệu nên sẽ không nhận được sự hỗ trợ một số nguồn lực.

Ba là, thời gian hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo không quá 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Do các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo có khả năng tăng trưởng nhanh, góp phần tích cực trong tạo việc làm mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, theo quy định này, ta có thể hiểu Nhà nước đang tập trung hỗ trợ DNKN, ĐMST trong giai đoạn đầu đến một giai đoạn nhất định, các công ty tư nhân mới tham gia đầu tư. Bên cạnh đó, việc quy định thời gian nhận hỗ trợ sẽ giúp các DNNVVKNST không ngừng hoàn thiện, tránh tình trạng ỷ lại vào các nguồn lực của Nhà nước mà không chịu trưởng thành. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

  • Nhóm các quy định pháp luật về hỗ trợ về vốn, tín dụng

Để có thể khởi nghiệp thành công thì vấn đề vốn luôn là điều kiện tiên quyết đối với bất kỳ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nào. Tuy nhiên, với bản chất rủi ro lớn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thì kênh huy động vốn truyền thống như vay vốn ngân hàng hầu như là không thể, vì vậy việc gọi vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là rất quan trọng. Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) vào doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo chính là nguồn lực để nuôi dưỡng thành công các ý tưởng ĐMST. ĐTMH nhằm khuyến khích việc tham gia đầu tư vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua việc góp vốn vào các quỹ đầu tư, rót vốn vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo hoặc mua lại tỷ lệ sở hữu các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn đầu, cũng như các vòng kêu gọi góp vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Như vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ được hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước và từ các tổ chức, nhà đầu tư tư nhân.

Về hỗ trợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo bao gồm: Các ưu đãi tín dụng, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh vay vốn từ các tổ chức tín dụng thông qua ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo đáp ứng điều kiện là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoặc đáp ứng được các tiêu chỉ đối với doanh nghiệp ĐMST.

  • Các hỗ trợ tín dụng đến từ hai nguồn chính:

Thứ nhất, hỗ trợ tín dụng từ các ngân hàng thương mại thông qua các gói tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp, bao gồm cả ưu đãi về lãi suất vay và thời gian vay.

Thứ hai, hỗ trợ tín dụng từ các quỹ bảo lãnh tín dụng thông qua việc bảo lãnh các gói tín dụng mà doanh nghiệp vay từ các ngân hàng thương mại. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Theo pháp luật Việt Nam, liên quan đến vấn đề ưu đãi tín dụng và khuyến khích đầu tư, tùy thuộc vào những điều kiện nhất định của doanh nghiệp về quy mô, loại hình, địa bàn hoạt động, phương thức hay ngành nghề kinh doanh mà Nhà nước có những chính sách hỗ trợ về tài chính tương ứng. Ngoài những ưu đãi dành cho doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thường được hưởng thêm những ưu đãi từ nhóm quy định về ưu đãi và khuyến khích đầu tư dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo còn được hưởng thêm những ưu đãi dành cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao.

  • . Nhóm các quy định pháp luật về ưu đãi về thuế

Chính sách ưu đãi thuế được áp dụng khá phổ biến trên thế giới. Ưu đãi thuế được hiểu là việc áp dụng các chính sách thuế có “sự khác biệt” so với các quy định chung của pháp luật thuế nhằm tạo ra sự đối xử ưu đãi hơn cho một nhóm đối tượng người nộp thuế cụ thể. Để một chính sách thuế được xem là một biện pháp “ưu đãi thuế”, chính sách thuế đó phải chứa đựng 3 yếu tố: (i) Sự khác biệt so với các quy định về thuế được áp dụng chung; (ii) Sự khác biệt tạo ra những ưu đãi nhất định cho người nộp thuế và (iii) Để được hưởng lợi, đối tượng nộp thuế phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định (ví dụ, thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ…).

Ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo với mục đích thúc đẩy phát triển loại hình doanh nghiệp này. Các hình thức ưu đãi thuế bao gồm: sử dụng thuế suất tiêu chuẩn thấp; thuế suất ưu đãi; miễn toàn bộ hoặc một phần thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN); chiết khấu đầu tư và tín dụng thuế; khấu hao nhanh; khấu trừ thuế; ưu đãi thuế gián tiếp; miễn giảm thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (GTGT)…

Pháp luật Việt Nam có nhiều chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp và những chính sách này đã có những phần liên quan đến DNKKNST, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đề cập đến các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa KNST bao gồm quy định hỗ trợ về thuế, đầu tư và vấn đề cấp bù lãi suất.

  • Nhóm các quy định pháp luật về hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý

Một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệp trong hoạt động gia nhập thị trường và tiến hành kinh doanh là các chi phí để tuân thủ các quy định của pháp luật. Có thể thấy rằng nhu cầu được tư vấn, hướng dẫn về các quy định pháp luật về doanh nghiệp là rất lớn. Bên cạnh việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý từ các tổ chức hành nghề luật sư, các trung tâm tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý của Nhà nước là một kênh quan trọng để thỏa mãn nhu cầu về pháp lý của doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Hỗ trợ pháp lý là việc Nhà nước công khai, minh bạch hóa hệ thống văn bản pháp luật để doanh nghiệp tiếp cận và nắm bắt được các quy định của pháp luật; thực hiện các hoạt động mang tính chất hỗ trợ về mặt pháp lý miễn phí, không cung cấp trực tiếp bằng vốn hay bằng các công cụ tài chính mà tập trung vào lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến những vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, quá trình điều hành, quản lý doanh nghiệp, thủ tục hành chính và giải quyết tranh chấp nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao hiểu biết pháp luật, có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật.

  • Nhóm các quy định pháp luật về hỗ trợ tạo lập mặt bằng sản xuất

Hỗ trợ về mặt bằng là việc Nhà nước giúp đỡ để doanh nghiệp có địa điểm tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, đó có thể là mặt đất, bề mặt, hoặc mặt nước. Ngoài ra, bên cạnh mặt bằng sản xuất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cụm công nghiệp… các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo còn được hỗ trợ các khu làm việc chung (co-working space) khi quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, số lượng nhân sự chưa nhiều nên nhu cầu sử dụng mặt bằng chưa lớn (pháp luật Việt Nam quy định vấn đề này tại Điều 12 và Điều 17 của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017).

Vấn đề hỗ trợ tạo lập mặt bằng sản xuất được quy định tại Điều 11 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 như sau: Căn cứ vào điều kiện quỹ đất thực tế tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp (UBND) tỉnh trình Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp quyết định bố trí quỹ đất để hình thành, phát triển cụm công nghiệp; khu chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung cho doanh nghiệp phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Căn cứ vào điều kiện ngân sách địa phương, UNBD trình HĐND cùng cấp quyết định hỗ trợ giá thuê mặt bằng cho doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp trên địa bàn. Thời gian hỗ trợ tối đa là 05 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê mặt bằng.

Việc hỗ trợ giá thuê mặt bằng cho doanh nghiệp theo pháp luật được thực hiện thông qua việc bù giá cho nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp để giảm giá cho thuê mặt bằng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Số tiền bù giá được trừ vào số tiền thuê đất hoặc được hỗ trợ từ ngân sách địa phương.

Tuy nhiên có một lưu ý, việc hỗ trợ mặt bằng sản xuất này sẽ không được áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn nhà nước. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

  • Nhóm các quy định pháp luật về các hỗ trợ khác

Các hình thức hỗ trợ khác bao gồm: cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực, sở hữu trí tuệ… thông qua việc hỗ trợ phát triển hệ thống vườn ươm công nghệ, nghiên cứu chung, tổ chức các khóa đào tạo nhằm tạo điều kiện ban đầu để các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo có đủ phương tiện, thiết bị, hạ tầng để thực hiện dự án của mình với chi phí hợp lý nhất.

Hỗ trợ mở rộng thị trường là việc Nhà nước đưa ra các chính sách phù hợp để khuyến khích thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ hàng hóa cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp gia tăng vị thế trên thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo còn “non trẻ” rất khó cạnh tranh được với các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Hỗ trợ về nguồn nhân lực là việc Nhà nước giúp đỡ doanh nghiệp tiếp cận thị trường lao động, hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có tay nghề hoặc tổ chức đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn của người lao động.

Hỗ trợ về sở hữu trí tuệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ: Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, việc giới thiệu các sản phẩm mới hoặc áp dụng các phương pháp mới trong sản xuất, bán hàng, tiếp thị sản phẩm và dịch vụ là các chiến lược mà các doanh nghiệp đang sử dụng để duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Các tài sản trí tuệ dần chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Biện pháp này hỗ trợ các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo khi tham gia môi trường cạnh tranh quốc tế với những yêu cầu chặt chẽ về các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Hỗ trợ về công nghệ – kỹ thuật là sự giúp đỡ của Nhà nước giúp đỡ doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tìm kiếm, giải mã, chuyển giao công nghệ; xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.

Ngoài ra, còn một số hỗ trợ như: hỗ trợ về đào tạo, thông tin, xúc tiến thương mại, thương mại hóa; hỗ trợ thực hiện các thủ tục về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng; thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mới, mô hình kinh doanh mới… Đây được đánh giá là các biện pháp hỗ trợ hiệu quả không kém bên cạnh việc hỗ trợ về vốn, tín dụng, thuế, pháp lý và mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

1.3. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng về việc doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhận được sự hỗ trợ

1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế về việc doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhận sự hỗ trợ Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

  • Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Để có được sự thịnh vượng của nền kinh tế, Nhật Bản từ rất sớm đã chú trọng đến việc hỗ trợ phát triển đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong giai đoạn từ năm 1848 – 1954, Nhật Bản đã thành lập Tổng cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, Nhật Bản đã bắt đầu thực thi các biện pháp cơ bản hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khi gia nhập thị trường như thiết lập hệ thống tài chính đặc biệt giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn khi khởi sự, cải thiện và thành lập các tổ chức tài chính phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Chính phủ… Tiếp sau đó, trải qua một thời gian, các chính sách xây dựng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Nhật Bản tiếp tục mở rộng. Năm 1963, Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến năm 1999, để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn về kinh tế, Luật doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được ra đời thay thế cho Luật cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 1963. Năm 2003, Nhật Bản ban hành Luật thúc đẩy hoạt động kinh doanh mới của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (trên cơ sở tổng hợp Luật thúc đẩy thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 1995, Luật thúc đẩy tạo ra các hoạt động kinh doanh mới 1998 và Luật cải cách kinh doanh 1999). Năm 2006, Nhật Bản có thêm Luật nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Có thể thấy, việc ban hành rất nhiều các văn bản và quy định về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thể hiện được sự quan tâm sâu sắc cùng quyết tâm xây dựng và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của nhà nước Nhật Bản đối với vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như DNKN. Cụ thể:

Thứ nhất, Nhà nước Nhật Bản có quy định về hỗ trợ các DNKN. Việc hỗ trợ khởi nghiệp được thể hiện ở việc giảm thuế đầu tư trang thiết bị trong vòng 5 năm đầu tiên, chế độ thúc đẩy doanh nghiệp ĐTMH, góp vốn vào các công ty cổ phần phát triển đầu tư các doanh nghiệp nhỏ và vừa… Những quy định này đã giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm thiểu được những chi phí cần phải đầu tư khi mới bắt đầu bước vào thị trường, đồng thời cũng tạo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa này sự hỗ trợ về vốn của doanh nghiệp. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Thứ hai, hỗ trợ tài chính. Nhật Bản đã thành lập Hiệp hội bảo lãnh tín dụng (1937), Quỹ tín dụng nông lâm ngư nghiệp (1953), Quỹ tín dụng phát triển Okinawa (1972), Quỹ tín dụng chính sách Nhật Bản (2008, kế thừa nghiệp vụ của Quỹ tín dụng sinh hoạt quốc dân, Quỹ tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ tín dụng nông lâm ngư nghiệp và Ngân hàng hợp tác quốc tế)… Theo số liệu năm 2011, số dư tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là 245.732,6 tỷ yên (tương đương 3.070 tỷ đô la Mỹ), chiếm 70% vốn dành cho doanh nghiệp vay, trong đó vốn đầu tư thiết bị chiếm khoảng 30%, 70% còn lại là vốn vận hành doanh nghiệp (vốn lưu động).

Thứ ba, hỗ trợ về tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của nhà nước. Từ năm 2001, Nhật Bản đã tổ chức kỳ thi cán bộ đánh giá doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những cán bộ này phải là những người đáp ứng được những yêu cầu về kinh nghiệm trong hoạt động quản lý doanh nghiệp và đã được qua đào tạo, thi chứng chỉ cấp quốc gia. Hiện nay có khoảng hơn 20.000 cán bộ phục vụ cho việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước này. Việc đào tạo một nguồn nhân lực lớn để phục vụ cho hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo nên môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Nhật phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khắc phục được phần nào những khó khăn mà doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp phải khi bắt đầu gia nhập thị trường.

  • Kinh nghiệm của Singapore

Singapore, một nền kinh tế đặc biệt năng động ở khu vực Đông Nam Á, đã có rất nhiều các chương trình, hoạt động nhằm thu hút nhân tài, thúc đẩy sáng tạo ở Singpore. Những nỗ lực của Singapore đã mang lại hiệu quả tích cực, góp phần quan trọng đưa Singapore trở thành một trong những mảnh đất hấp dẫn nhất cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Phần lớn các chương trình đều tập trung vào việc hỗ trợ tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp từ Chính phủ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo được lựa chọn. Một số chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đáng chú ý của Chính phủ Singapore trong thời gian qua:

Chương trình Cộng đồng Hành động Khởi nghiệp (Action Community for Entrepreneurship – (ACE): Đây là chương trình do Bộ Công Thương Singapore thực hiện từ năm 2003. Chương trình này tài trợ cho công dân hoặc người cư trú thường xuyên tại Singapore lần đầu khởi nghiệp, cứ mỗi 3$ Singapore vốn đầu tư thu hút được thì doanh nghiệp sẽ nhận được đầu tư từ quỹ là 7$ Singapore và tối đa là 50.000$ Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Quỹ đầu tư giai đoạn sơ khởi (the Early Stage Venture Fund): Quỹ này được thành lập năm 2008, được quản lý bởi Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Singapore (NRF). Quỹ này phối hợp với các nhà đầu tư mạo hiểm để đầu tư vào công ty công nghệ cao ở giai đoạn sơ khởi có trụ sở tại Singapore theo tỷ lệ 1:1. Trong vòng 05 năm, nhà đầu tư mạo hiểm có thể mua lại phần vốn đầu tư của Công ty được đầu tư sẽ phải hoàn trả lại vốn và lãi cho NRF.

Chương trình Vườn ươm công nghệ (Technology Incubation Scheme – TIS): Chương trình này được quản lý bởi NFIE thuộc Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Singapore (NRF). Theo Chương trình này, NRF sẽ cùng đầu tư với một Vườn ươm công nghệ được lựa chọn tham gia Chương trình (hiện có 14 Vườn ươm như vậy) cho các startup được Vườn ươm đó khuyến nghị với mức đầu tư lên tới 85% tổng đầu tư, tối đa là 000 $ Singapore.

Các kết quả từ các Chương trình này được đánh giá là rất khả quan. Năm 20174 thì Singapore đã trở thành quốc gia số 1 thế giới về thu hút startup nhân tài, còn trong tổng thể thì đứng thứ 12 trong số các thành phố khởi nghiệp đứng đầu thế giới. Phân tích tại báo cáo này cho biết kết quả này của Singpare là nhờ vào các biện pháp hỗ trợ sáng tạo rất hiệu quả mà Chính phủ nước này dành cho các startup công nghệ. Singapore xếp hạng thứ tư thế giới về số lượng các kỹ sư phần mềm có kinh nghiệm và thứ hai về số nhân lực có tiềm năng phát triển.

  • Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Năm 2011, Hoa Kỳ thông qua chương trình “Nước Mỹ khởi nghiệp” – Startup America, thông qua một loạt các sáng kiến của Nhà nước và tư nhân, nhằm mục đích mở rộng tiếp cận nguồn vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao trên khắp cả nước.

Chương trình này bao gồm việc mở rộng các hoạt động thúc đẩy tinh thần kinh doanh và tăng cường thương mại hóa khoảng 148 tỷ USD được Chính phủ liên bang đầu tư hàng năm, với tham vọng tạo ra những lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn mới; loại bỏ các rào cản không cần thiết cho việc khởi nghiệp kinh doanh; mở rộng hợp tác giữa các công ty lớn và công ty khởi nghiệp.

Chương trình mở rộng tiếp cận vốn dành cho doanh nhân khởi nghiệp bao gồm các sáng kiến của Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ – Small Business Association (SBA). Quỹ đầu tư Impact Fund 1 tỉ USD cung cấp vốn cho mục đích tăng trưởng của các doanh nghiệp thuộc các vùng có điều kiện kinh tế thấp hơn mức trung bình. Tài chính sẽ được cung cấp cho các công ty thuộc lĩnh vực mới nổi như năng lượng sạch. SBA cung cấp số vốn theo tỷ lệ 2:1 với đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân.

Quỹ đổi mới sáng tạo đầu tư giai đoạn khởi nghiệp 1 tỷ USD, dành cho các công ty phải đối mặt với khó khăn trong tiếp cận vốn, đặc biệt là những người không có tài sản thế chấp cần thiết hoặc không nhận được tín dụng ngân hàng truyền thống. Đối với các công ty tăng trưởng cao, và có độ rủi ro cao hơn thì tỷ lệ đầu tư của quỹ so với các quỹ đầu tư tư nhân là 1:1.

Có thể thấy là các quỹ đầu tư của Chính phủ Hoa Kỳ không thực hiện đầu tư trực tiếp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp mà hợp tác, đầu tư cùng với các quỹ tư nhân, theo tỷ lệ tùy thuộc vào mức độ rủi ro của doanh nghiệp khởi nghiệp. Phương thức này cho phép Nhà nước tác động được vào tiến trình khởi nghiệp trong toàn nền kinh tế trong khi nguồn vốn tư nhân chưa đủ, đồng thời cũng giảm bớt được rủi ro cho nguồn vốn của Nhà nước.

  • Kinh nghiệm của Ấn Độ Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Tháng 2/2016, Chính phủ Ấn Độ đã thông qua Chương trình STARTUP INDIA – STANDUP INDIA với mục tiêu thúc đẩy một cuộc cách mạng mới cho nền kinh tế thông qua các startup – nhóm chủ thể mà Chính phủ Ấn Độ xác định là động lực chuyển đổi nền kinh tế Ấn Độ khi thế giới bước vào kỷ nguyên kinh tế số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

STARTUP INDIA – STANDUP INDIA là một Đề án tổng lực, thống nhất toàn Ấn Độ để thúc đẩy và hỗ trợ các startup phát triển. Điểm mạnh của Chương trình này là (i) kết nối các tất cả các biện pháp hỗ trợ startup vào một tổng thể chung để tạo hiệu ứng lan tỏa tốt hơn (ii) nguồn lực được tập trung nhiều hơn từ Chính phủ, (iii) minh bạch hóa các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ thông qua việc thiết lập hệ thống thống nhất tiêu chí để công nhận startup và tiêu chí cho startup hưởng các loại ưu đãi cụ thể. Đối tượng hướng tới của Chương trình không chỉ là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo mới thành 26 lập/đang trong giai đoạn sơ khởi mà còn cả các doanh nghiệp trong bất kỳ lĩnh vực nào có triển vọng phát triển, mang lại thịnh vượng cho Ấn Độ.

  • Điều kiện startup của Ấn Độ Trong khuôn khổ Chương trình Startup India sử dụng 02 bộ tiêu chí:

Nhóm 1: Điều kiện để được công nhận là một startup và hưởng lợi từ các biện pháp hỗ trợ của Chương trình là (trừ hỗ trợ dưới dạng ưu đãi thuế):

  • Được thành lập dưới hình thức công ty TNHH, công ty hợp danh, công ty hợp danh TNHH thành lập theo pháp luật Ấn Độ;
  • Hoạt động chưa tới 7 năm kể từ ngày thành lập (riêng trường hợp doanh nghiệp công nghệ sinh học thì là 10 năm), không chấp nhận trường hợp chia tách từ doanh nghiệp khác;
  • Có tổng doanh thu của bất kỳ năm tài chính nào từ ngày thành lập không vượt quá Rupees 25 crores;
  • Hoạt động hướng tới sáng tạo, phát triển hoặc cải thiện sản phẩm, quy trình, dịch vụ hoặc có mô hình kinh doanh có tiềm năng lớn trong tạo việc làm hoặc lợi nhuận (Doanh nghiệp đăng ký startup phải có bản thuyết minh về vấn đề này)

Nhóm 2: Điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế

  • Đáp ứng tất cả các điều kiện nhóm 1 (tức là đã được công nhận là startup theo Chương trình Startup India – Standup India);
  • Là công ty TNHH hoặc công ty hợp danh TNHH thành lập trong khoảng từ 1/4/2016-31/3/2019
  • Được cấp chứng nhận đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế bởi Ban xác nhận liên ngành do Vụ chính sách công nghiệp và xúc tiến

Việc thực hiện Chương trình này, cùng với các kết quả từ các biện pháp hỗ trợ sáng tạo đơn lẻ trước đó của Chính phủ Ấn Độ đã góp phần đưa Ấn Độ trở thành quốc gia khởi nghiệp đứng thứ 3 trên thế giới, tính theo số lượng startups và khối lượng vốn đầu tư mạo hiểm mà các startup này thu hút được.

1.3.2. Bài học cho Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng về việc doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nhận sự hỗ trợ Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Trong khoảng gần một thập kỷ trở lại đây, khi startup thực sự trở thành trào lưu mạnh mẽ, các biện pháp hỗ trợ startup của các Chính phủ càng lúc càng đa dạng và tập trung hơn, cả về mục tiêu, cách thức triển khai lẫn quy mô hỗ trợ. Lý do đằng sau các nỗ lực hỗ trợ startup của các Chính phủ ngày nay bên cạnh các mục tiêu truyền thống còn có áp lực của cách mạng công nghiệp 4.0, định hướng tương lai kinh tế số và nhu cầu đổi mới, thậm chí tái cơ cấu nền kinh tế, để cải thiện năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế kết nối toàn cầu.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ở tất cả các nước được rà soát trong nghiên cứu này thì các biện pháp hỗ trợ được nhận diện và đánh giá hiệu quả đều xuất phát từ Chính phủ trung ương, áp dụng chung trên toàn lãnh thổ. Việc triển khai thường được giao cho một hoặc một số Bộ chủ trì dưới tên mình hoặc nhân danh Chính phủ nhưng về cách thức, điều kiện, mức hỗ trợ đều được xác định rõ ràng trong các văn bản có hiệu lực pháp luật, triển khai chung trên toàn quốc, cho tất cả các đối tượng đáp ứng tiêu chí yêu cầu. Chính phủ không trực tiếp chủ động, các bộ ban ngành là những người thi hành sẽ chậm chạp trong việc thực thi nhiệm vụ. Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy ở tất cả các nước được rà soát trong nghiên cứu này thì các biện pháp hỗ trợ được nhận diện và đánh giá hiệu quả đều xuất phát từ Chính phủ trung ương, áp dụng chung trên toàn lãnh thổ. Việc triển khai thường được giao cho một hoặc một số Bộ chủ trì dưới tên mình hoặc nhân danh Chính phủ nhưng về cách thức, điều kiện, mức hỗ trợ đều được xác định rõ ràng trong các văn bản có hiệu lực pháp luật, triển khai chung trên toàn quốc, cho tất cả các đối tượng đáp ứng tiêu chí yêu cầu

Phần lớn các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo mà các Chính phủ thực hiện thường là rất giống nhau, nhưng cũng phụ thuộc vào nguồn lực của Chính Phủ từng nước mà cụ thể các chính sách hỗ trợ sẽ có sự khác nhau. Chủ yếu các biện pháp hỗ trợ thuộc các nhóm sau đây:

Nhóm 1: Các biện pháp hỗ trợ về tài chính. Đây là nhóm biện pháp nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo vượt qua khó khăn được cho là lớn nhất của mình: Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

  • Các khoản hỗ trợ tài chính dưới dạng khoản tài trợ trực tiếp vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo (thường ở giai đoạn ý tưởng hoặc giai đoạn đầu của quá trình phát triển sản phẩm).
  • Các khoản cho vay, bảo lãnh tín dụng: ví dụ các khoản tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo từ các quỹ, tổ chức tín dụng của Nhà nước hoặc các biện pháp bảo lãnh tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng tư nhân.
  • Các khoản đầu tư mạo hiểm: việc đầu tư này có thể được thực hiện thông qua các quỹ đầu tư Nhà nước hoặc đầu tư gián tiếp thông qua việc phối hợp đầu tư với các nhà đầu tư/quỹ đầu tư tư nhân hoặc cung cấp các chương trình bảo lãnh đầu tư cho các nhà đầu tư/quỹ đầu tư tư nhân đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.
  • Miễn, giảm các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước: Ở nhóm biện pháp này Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thông qua việc giảm các nghĩa vụ về tài chính phải nộp (ví dụ miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, giảm các mức đóng góp cho bảo hiểm xã hội…)

Nhóm 2: Các biện pháp tư vấn, hỗ trợ kinh doanh

Nhóm biện pháp này nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo vượt qua được các khó khăn về kinh doanh do thiếu các kiến thức cần thiết về kinh tế, quảng bá và kết nối mạng lưới. Các biện pháp hỗ trợ thuộc nhóm này cũng rất đa dạng, tuy nhiên chủ yếu vẫn là:

  • Hỗ trợ tư vấn về pháp lý và quản trị miễn phí hoặc được tài trợ một phần phí
  • Hỗ trợ marketing, bao gồm cả quảng bá, giới thiệu, xúc tiến thương mại cho sản phẩm của startup
  • Hỗ trợ kết nối để các startup có thể tiếp cận được mạng lưới các nhà đầu tư, các đơn vị, chương trình, dự án hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo

Nhóm 3: Các biện pháp hỗ trợ về cơ sở hạ tầng

  • Xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết lập các khu làm việc chung, các công viên công nghệ, vườn ươm khoa học của Nhà nước, từ đó cung cấp không gian làm việc và trang thiết bị với giá hợp lý, hoặc miễn giảm phí cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo;
  • Hỗ trợ các chi phí về cơ sở hạ tầng cho startup tại các khu làm việc, vườn ươm tư nhân

Nhóm 4: Các biện pháp thúc đẩy động lực, truyền bá, tạo cảm hứng khởi nghiệp sáng tạo.

  • Các cuộc thi, giải thưởng cho các startup Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.
  • Các hoạt động quảng bá, truyền thông (chuyên mục báo chí, … nhằm tăng cường nhận thức của công chúng đối với startup
  • Bảo trợ, thúc đẩy thành lập các tổ chức kết nối, đại diện

Nhóm 5: Các biện pháp hỗ trợ thông qua giáo dục, đào tạo

Nhóm này bao gồm các biện pháp nhằm xây dựng các kỹ năng mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thường bị hạn chế, bao gồm:

  • Các chương trình đào tạo, hướng dẫn khởi nghiệp tại các trường đại học, các cơ sở giáo dục bậc cao (đào tạo, tập huấn các kiến thức kinh doanh, các kỹ năng, điều kiện, quy trình để sinh viên có thể khởi nghiệp)
  • Các chương trình đào tạo kỹ năng quản trị, quản lý tài chính, lao động… cho các sáng lập viên của các doanh nghiệp…

Việt Nam đang đứng trước cơ hội quan trọng để có được một cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tổng thể thay vì các biện pháp đơn lẻ, rải rác. Đây dường như cũng đang trở thành một xu hướng mới trên thế giới. Để xác định được mô hình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo phù hợp và hiệu quả cho Việt Nam, ít nhất Việt Nam cần có cách tiếp cận thích hợp trong các vấn đề về phạm vi chương trình hỗ trợ, về tiêu chí đối tượng hưởng hỗ trợ và biện pháp hỗ trợ.

Việt Nam đã lựa chọn các nhóm biện pháp hỗ trợ startup khá phổ biến trên thế giới. Tại thành phố Hồ Chí Minh, các biến pháp này được áp dụng để phát triển năng lực khởi nghiệp trong giới trẻ, làm nền tảng để hình thành những doanh nghiệp sau này, các chương trình hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp và phát triển các ý tưởng kinh doanh, một số viện, trường đại học trên địa bàn thành phố đã thành lập các mô hình ươm tạo khởi nghiệp như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh…

Bước đầu đã góp phần hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo, tiến tới thương mại hóa các ý tưởng, sản phẩm của sinh viên. Bên cạnh đó, Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp thuộc Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có những hoạt động hỗ trợ nhằm kết nối các buổi hội thảo và Quỹ đầu tư để định hướng và phát triển các ý tưởng khởi nghiệp cho các bạn trẻ. Khi làn sóng khởi nghiệp đang lan rộng trên từng ngóc ngách, thì vai trò của các vườn ươm doanh nghiệp càng quan trọng. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Theo các chuyên gia, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều mô hình vườn ươm đã được hình thành từ nhiều năm trước đây, song hoạt động chưa đúng tiêu chí và năng lực của một vườn ươm cho khởi nghiệp.

Tuy nhiên, cũng trong so sánh với các nước trên thế giới thì dường như Việt Nam hiện chỉ đang chú trọng tới một cách thức hỗ trợ (hỗ trợ bằng tiền, còn gọi là “trợ cấp”) và bỏ qua hoàn toàn các hình thức hỗ trợ khác cũng không kém phần phổ biến và được chứng minh là hiệu quả trên thế giới như hỗ trợ về thủ tục (ví dụ thủ tục rút gọn, ưu tiên, nhanh, đơn giản hóa…) hay hỗ trợ miễn giảm các nghĩa vụ mà lẽ ra doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo phải thực hiện với Nhà nước (ví dụ miễn giảm thuế, phí, lệ phí…) (tạm gọi chung là các biện pháp “miễn trừ”).

Việc chỉ tập trung vào nhóm biện pháp trợ cấp mà bỏ qua các nhóm biện pháp khác trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam dường như là không hợp lý, bởi các lý do:

Thứ nhất, thời điểm thực hiện các biện pháp hỗ trợ có thể kéo dài Với tính chất là các “trợ cấp bằng tiền”, để triển khai các biện pháp này, Nhà nước chắc chắn phải bỏ ra các nguồn lực nhất định.

Thứ hai, phạm vi hỗ trợ sẽ là rất hạn chế ngay cả khi Nhà nước bằng các cách khác nhau thu xếp được nguồn lực để triển khai thì với tình trạng ngân sách Nhà nước eo hẹp, nguồn lực dành cho hỗ trợ startup thu xếp được dự kiến sẽ là rất nhỏ so với nhu cầu. Như vậy, trong mọi trường hợp, hiệu quả dự kiến của các biện pháp này, nếu có, sẽ là khá hạn chế, chỉ giới hạn ở một số lượng nhỏ các startup. Trong khi đó, nếu kết hợp với các biện pháp hỗ trợ khác (về thủ tục, về miễn giảm nghĩa vụ), hiệu quả dự kiến sẽ cao hơn rất nhiều bởi:

  • Không quá tốn kém về nguồn lực

Khoản 3 Điều 4 Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa “Căn cứ vào nguồn lực hỗ trợ, cơ quan, tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa uyết định số lượng doanh nghiệp được nhận hỗ trợ đảm báo quy tắc nộp hồ sơ đủ điều kiện trước được hỗ trợ trước”. Để triển khai các biện pháp hỗ trợ dạng này, ngoài các chi phí tối thiểu phải bỏ ra một lần (ví dụ chi phí để điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy định về quy trình, mức phí, lệ phí, miễn giảm thuế…) và giảm các nguồn thu trong tương lai (các khoản thuế, phí, lệ phí lẽ ra phải nộp nhưng startup được miễn, giảm), các biện pháp này không đòi hỏi Nhà nước phải bỏ ra nguồn lực nào khác để triển khai.

  • Phạm vi hỗ trợ có thể mở rộng Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Do khi thực hiện các biện pháp hỗ trợ dạng này, Nhà nước không phải trực tiếp chi từ Ngân sách nên không bị ràng buộc bởi các giới hạn nguồn lực, và vì vậy có thể thực hiện với nhiều đối tượng thụ hưởng. Hơn nữa, trong quá trình triển khai các biện pháp hỗ trợ dạng này, Nhà nước không phải tạo dựng thêm bộ máy hay cơ chế mới mà hoàn toàn có thể dùng các cơ quan, cách thức hiện tại để thực hiện việc hỗ trợ nên startup ở bất kỳ khu vực địa lý, lĩnh vực hoạt động nào cũng đều có thể tiếp cận và thụ hưởng các hỗ trợ này.

  • Hỗ trợ đúng đối tượng, trúng nhu cầu

Với tính chất là các hỗ trợ trực tiếp cho các startup, chỉ áp dụng khi startup triển khai các thủ tục, hoặc phát sinh khoản thuế, phí, lệ phí liên quan, về nguyên tắc một startup sẽ không thể hưởng lợi quá một lần cho các thủ tục, khoản thuế, phí, lệ phí được hỗ trợ. Do đó, các biện pháp hỗ trợ dạng này cho phép hạn chế tối đa tình trạng trùng lặp, lãng phí hay thông đồng trong hỗ trợ startup. Ngoài ra, cần chú ý là trong thực tiễn hoạt động kinh doanh ở Việt, ở khá nhiều trường hợp, khó khăn mà doanh nghiệp nói chung và startup nói riêng phải đối mặt là các bất cập, vướng mắc trong các thủ tục hành chính liên quan (ví dụ thủ tục gia nhập thị trường, bảo hộ sở hữu trí tuệ, kê khai thuế…). Vì vậy hỗ trợ startup vượt qua các khó khăn này cũng có ý nghĩa và mang lại hiệu quả đáng kể, đôi khi không hề kém so với các biện pháp “trợ cấp” bằng tiền.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Nội dung Chương I “Một số vấn đề lý luận chung của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo” nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò không thể phủ nhận của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao năng suất trong xã hội dựa trên tri thức và công nghệ. Mô hình kinh doanh này không chỉ mang lại các phát minh và sáng kiến mới mà còn tạo điều kiện thuận lợi để thương mại hóa các công nghệ tiên tiến, đóng góp vào sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghệ và nền kinh tế tri thức, sáng tạo.

Với ý nghĩa quan trọng như vậy, việc đẩy mạnh chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là một nhiệm vụ quan trọng mà cần được thực hiện mạnh mẽ và quyết liệt. Tương quan giữa nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cũng cần được kết hợp một cách hiệu quả để tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp này phát triển và vươn ra thị trường quốc tế. Hệ sinh thái khởi nghiệp cần được xây dựng mạnh mẽ, với các trường đại học trở thành những vườn ươm cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong tương lại, tạo đà cho việc phát triển khởi nghiệp trên quy mô quốc gia. Để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ này, cần phải xem xét cẩn trọng về cách áp dụng pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Trong bối cảnh hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đối mặt với nhiều thách thức sau đại dịch Covid-19, khi mà nền kinh tế đã và đang gặp khó khăn. Nhu cầu về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo ngày càng tăng cao và đa dạng, từ vốn vay ưu đãi đến đào tạo và kết nối thị trường. Cần có sự kết nối chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và các nguồn lực như trường đại học và viện nghiên cứu, để tạo ra môi trường khởi nghiệp sáng tạo mạnh mẽ và bền vững.

Chương 1 của luận văn đã nêu lên vấn đề quan trọng về vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong phát triển kinh tế, cũng như tầm quan trọng của việc áp dụng pháp luật hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển này. Cần có sự hợp tác giữa nhà nước và doanh nghiệp để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang cực kỳ khó khăn như hiện nay. Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

One thought on “Luận văn: Pháp luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464