Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Các quy định của pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp
Pháp luật là công cụ quan trọng nhất để nhà nước quản lý vấn đề xử lý nước thải công nghiệp. Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm loại bỏ những chất độc hại trong nước thải công nghiệp đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
2.1.1. Quy định của pháp luật kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật liên quan đến xử lý nước thải
Tình trạng nước thải công nghiệp làm ô nhiễm trầm trọng nguồn nước như hiện nay bên cạnh ý thức năng lực của một bộ phận doanh nghiệp yếu kém thì công tác quản lý lỏng lẻo, không hiệu quả, thiếu minh bạch đóng vai trò là nguyên nhân chính. Do đó, để nâng cao công tác BVMT thì cần nhìn nhận công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đúng với vai trò thực sự của nó. Trong thời gian tới hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát phải được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm giải quyết kịp thời, triệt để những vướng mắc, khắc phục các vi phạm, chấn chỉnh yếu kém về quản lý môi trường tại các địa phương.
Việc thanh tra hoạt động liên quan đến nước thải công nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra 2022 và quy định của Luật BVMT 2020 cùng các văn bản pháp lý liên quan. Theo đó, hoạt động thanh tra do thanh tra viên chủ trì thực hiện, có thể tiến hành thanh tra đột xuất hoặc thanh tra thường xuyên hoặc thanh tra theo kế hoạch, chương trình đã được phê duyệt.
Hoạt động kiểm tra, giám sát là hoạt động thường xuyên liên tục do cơ quan quản lý nhà nước tiến hành nhằm theo dõi, phát hiện, nhắc nhở kịp thời hoặc xử lý ngay các trường hợp sai phạm, Hoạt động kiểm tra, giám sát nước thải công nghiệp được thực hiện theo quy định Luật BVMT 2020, Luật Tài nguyên nước 2012 và các văn bản pháp lý liên quan.
- Quá trình tiến hành thanh tra các vụ việc liên quan đến nước thải công nghiệp, các cơ quan có quyền:
Trưng cầu giám định, kiếm tra kỹ thuật tại hiện trường về các chi tiêu vật lý, hóa học… các mẫu nước thải công nghiệp nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác.
Có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả lời các vấn đề cần thiết liên quan đến công tác thanh tra. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp các hoạt động xử lý nước thải được tiến hành thanh tra có nguy cơ gây sự cố môi trường và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó.
Tiến hành xử lí các vi phạm trong phạm vi thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vấn đề có liên quan đến nước thải công nghiệp.
- Quyền và trách nhiệm của đối tượng thanh tra:
Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có quyền giải trình về nội dung thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra xử lý nước thải công nghiệp.
Phải cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra xử lý nước thải theo yêu cầu của cơ quan thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của những thông tin, tài liệu đã cung cấp.
Trong thực tế, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực NTCN thời gian gần đây cho thấy những bất cập còn tồn tại phải khắc phục. Vấn đề về thanh tra, kiểm tra công tác BVMT, xử lý NTCN trong các KCN là vấn đề gây bức xúc nhất cho doanh nghiệp khi có quá nhiều cơ quan đơn vị thực hiện. Các doanh nghiệp trong KCN phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của quá nhiều cơ quan, trong khi việc phối hợp giữa các cơ quan này còn chưa chặt chẽ, vẫn còn tình trạng mạnh đơn vị nào đơn vị đó làm gây khó khăn, phiền hà cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi việc đôn đốc các doanh nghiệp có vi phạm khắc phục lỗi và thực hiện nội dung theo yêu cầu kết luận thanh tra, kiểm tra lại chưa được quan tâm, chưa phát huy hiệu quả.
Bên cạnh đó, hoạt động thanh tra cũng có nhiều ảnh hưởng tích cực đến BVMT và xử lý NTCN. Báo cáo của UBND tỉnh Bình Dương năm 2022, thì đối với cấp tỉnh đã ban hành Kết luận thanh, kiểm tra đối với 15 đơn vị (trong đó có 07 đơn vị vi phạm với số tiền 3,06 tỷ đồng), 02 đơn vị đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh, đang tổng hợp báo cáo kết quả kiểm tra đối với 167 đơn vị. Tiến hành thanh tra đột xuất đối với 47 đơn vị, kết quả đã ban hành kết luận thanh, kiểm tra đối với 24 đơn vị (trong đó có 13 đơn vị vi phạm với số tiền 2,52 tỷ đồng), đang tổng hợp báo cáo kết quả thanh, kiểm tra đối với 23 đơn vị. Ngoài ra, phối hợp Phòng Cảnh sát Môi trường; Ban quản lý các Khu công nghiệp xử lý vi phạm đối với 208 đơn vị do với tổng số tiền xử phạt khoảng 22 tỷ đồng, thu số lợi bất hợp pháp với tổng số tiền khoảng 2,9 tỷ đồng. Đối với cấp huyện, đã xử phạt vi phạm hành chính đối với 118 đơn vị với tổng số tiền 13.024.425.000 đồng.
Trong năm 2022, toàn Tỉnh đã tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với 569 đơn vị, trong đó thanh tra, kiểm tra cấp tỉnh 174 đơn vị, thanh tra, kiểm tra cấp huyện 395 đơn vị. Về giải quyết giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, cấp tỉnh đã giải quyết 85 đơn; cấp huyện đã giải quyết 76 đơn.
Chưa có sự thống nhất trong hoạt động công tác giữa cấp trên và cấp dưới. Cộng với việc nhiều trường hợp bao che, nâng đỡ đặc biệt đối với doanh nghiệp, dịch vụ công dẫn đến vi phạm về bảo vệ môi trường của cơ sở dịch vụ công ích là khá phổ biến, bao gồm: bệnh viện, công ty môi trường đô thị, chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Hầu như những cơ sở này không thực hiện các quy định về BVMT, mặc dù, đã được nhắc nhở, yêu cầu nhiều lần. Thêm vào đó, nhiều địa phương chưa kiên quyết xử lý vi phạm.
2.1.2. Quy định pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Để tác động đến ý thức BVMT của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo nguồn thu cho hoạt động bảo vệ môi trường, nhà nước quy định doanh nghiệp xả NTCN vào môi trường phải nộp phí. Việc quy định mức phí này có ảnh hưởng nhiều đến hành động của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp hạn chế tối đa lượng nước thải ra môi trường hàng ngày.
Thực hiện nộp phí và thu phí bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định của Nghị định 53/2020/NĐ-CP. Theo quy định của Nghị định 53/2020/NĐ- CP, trừ các trường hợp được miễn phí thì nước thải công nghiệp trong các lĩnh vực sau phải nộp phí BVMT: Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến: Nông sản, lâm sản, thủy sản; Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến: Thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; Cơ sở chăn nuôi, giết mổ; Gia súc, gia cầm tập trung; Cơ sở nuôi trồng thủy sản; Cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; Cơ sở: Thuộc da, tái chế da; Cơ sở: Khai thác, chế biến khoáng sản; Cơ sở: Dệt, nhuộm, may mặc; Cơ sở sản xuất: Giấy, bột giấy, nhựa, cao su; Cơ sở sản xuất: Phân bón, hóa chất, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng; Cơ sở: Cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng; Cơ sở sản xuất: Linh kiện, thiết bị điện, điện tử; Cơ sở: Sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu; Nhà máy cấp nước sạch;Cơ sở sản xuất khác.
Nghị định 53/2020/NĐ-CP nêu rõ: Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường là nước thải công nghiệp thải vào nguồn tiếp nhận nước thải theo quy định pháp luật và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp miễn thu phí theo quy định.
Trong đó, nước thải công nghiệp là nước thải từ các nhà máy, địa điểm, cơ sở sản xuất, chế biến (sau đây gọi chung là cơ sở) của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm: Cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô trang trại theo quy định pháp luật về chăn nuôi; cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm; cơ sở nuôi trồng thủy sản thuộc diện phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định; Cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản; nhà máy cấp nước sạch, nhà máy điện; cơ sở giấy, bột giấy, nhựa, cao su; cơ sở cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng; cơ sở sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu, xử lý chất thải; Hóa chất cơ bản, phân bón, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng; hệ thống xử lý nước thải tập trung tại khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cảng cá, khu công nghệ cao và các khu khác,…
Qua đó, tại Nghị định 53/2020 cũng quy định các trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải gồm: Nước xả ra từ các nhà máy thủy điện; Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra; Nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các xã; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các phường, thị trấn chưa có hệ thống cấp nước sạch; hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh ở các phường, thị trấn đã có hệ thống cấp nước sạch tự khai thác nước sử dụng; Nước làm mát (theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường) không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng; Nước thải từ nước mưa tự nhiên chảy tràn; Nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy sản của ngư dân; Nước thải của các hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị (theo quy định tại Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải) đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo quy định trước khi thải vào nguồn tiếp nhận.
Quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp phí: Tất cả các doanh nghiệp xả nước thải vào môi trường đều có nghĩa vụ nộp đủ, đúng hạn số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải cho cơ quan thu phí; Các tổ chức, cá nhân xả thải có nghĩa vụ kê khai số phí phải nộp hàng quý với Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường nơi xả nước thải theo đúng quy định và đảm bảo tính chính xác của việc kê khai; Đối với cơ sở sản xuất công nghiệp; cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; hệ thống xử lý nước thải tập trung, quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 53/2020/NĐ-CP sử dụng nguồn nước từ đơn vị cung cấp nước sạch cho hoạt động sản xuất, chế biến thì phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp (không phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt). Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Sở Tài nguyên và Môi trường được sử dụng 25% trên tổng số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp để thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc thu phí đối với nước thải.
Tiếp nhận và thẩm định tờ khai phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, thông báo số phí phải nộp, tổ chức việc thu, nộp phí và quyết toán số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của đối tượng nộp phí; thực hiện quyết toán việc thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền phí thu được trên địa bàn với cơ quan thuế thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường.
Trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc, quyết toán việc thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thuộc về Cơ quan thuế…
Tổng hợp số liệu về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại địa phương để sửa đổi, bổ sung về mức thu, quản lý sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
2.1.3. Xử lý vi phạm trong việc xử lý nước thải công nghiệp
Tình trạng vi pháp pháp luật trong lĩnh vực môi trường ngày nay đang diễn ra thường xuyên và trên diện rộng khắp cả nước, với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Những vụ vi phạm bị phát hiện mới chủ yếu là các vụ lớn và/hoặc là những doanh nghiệp vi phạm nằm trong khu vực tập trung doanh nghiệp tại các tỉnh thành có nền công nghiệp phát triển như Tp. HCM, Hà Nội, Đồng Nai, … Theo quy định thì các vi phạm đều bị xử lý nghiêm, tuy nhiên tinh thần này gần như chưa được thực hiện nghiêm túc.
Hiện tại theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực xử lý NTCN, tùy theo mức độ vi phạm mà các chủ thể vi phạm có thể bị áp dụng chế tài khác nhau, có thể là hình sự hay hành chính. Điều 161 Luật BVMT 2020 quy định: “Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và cá nhân phải có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và bị xử lý theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đối với các biện pháp hành chính thì ngày 07/07/2022 Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2022/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có hiệu lực thi hành từ ngày 25/8/2022, thay thế Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Theo Nghị định 45/2022/NĐ-CP nêu trên thì các hình thức xử phạt hành chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền với mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 2.000.000.000 đồng mức phạt này không có gì thay đổi giữa Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 và Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016. Ví như vụ việc Công ty Cổ phần Vedan Việt Nam xả thải trực tiếp xuống sông Thị Vải (tháng 10/2008) bị xử phạt hành chính 267 triệu đồng, trong khi phí BVMT truy thu với lượng nước thải đã xả trái phép là 127 tỷ đồng; buộc Công ty phải đầu tư 33 triệu USD để nâng cấp công nghệ, bảo đảm nước thải đạt quy chuẩn môi trường. Bên cạnh đó, ngoài hình thức xử phạt chính, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP.
Với hàng loạt những sai phạm trong thời gian gần đây về xử lý nước thải và an toàn môi trường. Nhiều đơn vị bị phạt tiền trên 300 triệu đồng vi không có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo, sự gây mất ô nhiễm trong xả thải và chất lượng của nước thải qua xử lý tới môi trường đã gây lên nhiều lo ngại trong dư luận. Như có 03 vụ việc gần đây:
Vụ thứ nhất: UBND tỉnh Bình Dương ban hành quyết định số 2875 xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty trách nhiệm hữu hạn ANAQ Việt Nam về hành xả nước thải có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 05 lần đến dưới 10 lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 05m³/ngày (24 giờ) đến dưới 10m³/ngày (24 giờ). Cụ thể: Theo Phiếu kết quả thử nghiệm số 2787/KQ-TTQTKT ngày 26/6/2020 của Trung tâm Quan trắc-Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương đối với mã mẫu: TC10/13610620 tại hố ga đấu nối nước mưa có 7/7 chỉ tiêu vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải: NH4+ vượt 8,8 lần, BOD5 vượt 5,24 lần, COD vượt 4,72 lần, Coliform vượt 3 lần, Tồng Nitơ vượt 2,78 lần, Tổng Photpho vượt 1,78 lần; TSS vượt 1,14 lần, với thải lượng nước thải 06m3/ngày (24 giờ). Tổng số tiền phạt là 558 triệu đồng.
Vụ thứ hai: UBND tỉnh Bình Dương ban hành quyết định số 1898 đối với công ty Cổ phần thương mại – sản xuất xây dựng Hưng Thịnh. Doanh nghiệp này đã thực hiện hành vi xả nước thải có chứa thông số môi trường thông thường vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 1,5 lần đến dưới 03 lần với lưu lượng nước thải từ 1.400 m³/ngày (24 giờ) đến dưới 1.600 m3/ngày (24 giờ), cụ thể: Theo Phiếu kết quả thử nghiệm số 2530/KQ-TTQTKT, mã mẫu số TC0623-01280 ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Trung tâm Quan trắc – Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương thì nước thải sau công trình xử lý nước thải giai đoạn 2 của Khu công nghiệp Đồng An II đang thải ra môi trường với lưu lượng 1.500 m3/ngày (24 giờ) co thông số tổng chất rắn hòa tan (TDS) lả 975 mg/1 vượt qụy chuẩn 1,95 lan và thông số Clorua là 531,8 mg/1 vượt quy chuẩn 1,18 lần (QCVN 40:2011/BTNMT, cột A; Kq = 0,9; Kf = 1,0 và QCVN 14:2008/BTNMT, cột A, hệ số K = 1,0). UBND Tỉnh đã ra quyết định xử phạt với tổng số tiền là 517 triệu đồng. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Vụ thứ ba: UBND tỉnh Bình Dương đã ra quyết định xử hành vi vi phạm hành chính của công ty TNHH Yeong Shing (Việt Nam), tại xã Phú An, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Doanh nghiệp này đã thực hiện hành vi vi phạm xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 20 m3/ngày (24 giờ) đên dưới 40 m3/ngày (24 giờ). Cụ thể: Theo Phiếu kết quả thử nghiệm số 5588/KQ-TTQTKT ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Trung tâm Quan trắc – Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương đối với mẫu nước thải của Công ty TNHH Yeong Shing (Việt Nam) cho thấy: chỉ tiêu TSS vượt 20,5 lần (738/36 mg/L), BOD5 vượt 5,55 lấn (120/21,6 mg/L), COD vượt 4,96 lần (268/54 mg/L) so với QCVN 40:2011/BTNMT (cột A, kq = 0,6; kf 1,2). Với tổng số tiền phạt là 406 triệu đồng và có áp dụng thêm biện pháp khắc phục hậu quả là: Thu gom, xử lý nước thải, đảm bảo nước thải sau hệ thống xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả vi phạm về Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bên Cát để kiểm tra, giám sát; Chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc và phân tích mẫu nước thãi có kêt quả vượt quy chuân cho phép với số tiền là 2.581.001 đồng theo Báo giá số 1205/2022/BG-PTMT ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Trung tâm Quan trắc -Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương.
Theo đó thì “người gây ô nhiễm phải trả tiền xử lý ô nhiễm; nguồn thu từ dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải phải đáp ứng từng hước và tiến tới bù đắp chi phí dịch vụ thoát nước”. Qua đó, Nghị định 80/2014/NĐ-CP của Chính phủ thoát nước và xử lý nước thải được ban hành đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm của từng cá nhân tổ chức với hoạt động xử lý nước thải và xả thải ra môi trường.
Đó là nguyên tắc chung của quản lý thoát nước và xử lý nước thải sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng.
Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động xử lý nước thải được quy định chủ yếu tại điều 14, 15 Nghị định 45/2022/NĐ-CP. Cụ thể, điều 14 tập trung về vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường đối với dự án đầu tư đã triển khai xây dựng nhưng chưa đi vào vận hành hoặc cơ sở đang hoạt động mà không có giấy phép môi trường hoặc đăng ký môi trường theo quy định; Điều 15 quy định về vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường tại cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, làng nghề. Nhìn chung, Nghị định 45/2022/NĐ-CP đã có những điểm mới, tiến bộ hơn để điều chỉnh hoạt động xử lý NTCN so với Nghị định số 155/2016/NĐ-CP trước đó, vấn đề xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động xử lý NTCN vẫn còn một số hạn chế và có phần chưa hợp lý.
Hiện nay, những quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT đã được quy định tại Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 07/7/2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Theo đó, trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật xử lý nước thải được quy định trong một số điều luật khác nhau như:
Hành vi vi phạm các quy định về không có quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định theo Điều 13 của Nghị định với mức tiền phạt từ 50.000.000 đồng đến tối đa 250.000.000 đồng tùy vào từng khoản đã được quy định cụ thể. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Hành vi vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường phạt từ 300.000 đồng lên đến 950.000.000 đồng tùy vào khối lượng và mức độ nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật vê chất thải theo quy định tại Điều 18 của Nghị định. Vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường phạt từ 1.000.000 đồng lên đến 1.000.000.000 đồng tùy vào khối lượng và mức độ nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải theo quy định tại Điều 19 của Nghị định. Phạt tăng thêm 10% đến 50% mức tiền cao nhất với các trường hợp quy định cụ thể tại khoản 19 Điều này.
Ngoài các hình thức phạt tiền, Nghị định còn quy định các hình thức phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây nên như: đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường hoặc đình chỉ hoạt động của các cơ sở vi phạm quy định tùy từng mức tương ứng với khoảng thời gian đình chỉ từ 03 tháng đến tối đa 12 tháng; buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết qua đã khắc phục xong hậu quả vi phạm trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định gây ra.
- Về trách nhiệm hình sự:
Bộ luật Hình sự 2015 ban hành ngày 27/11/2015 có quy định hành vi xả NTCN đến mức nhất định thì bị coi là tội phạm và phải chịu chế tài hình sự. Theo quy định của BLHS 2015, chủ thể phải chịu mức án tù từ 1 năm đến 7 năm hoặc phạt tiền từ 100 triệu đến 3 tỷ khi thực hiện các hành vi sau :
- Xả thải ra môi trường từ 5.000 mét khối (m³)/ngày trở lên với nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên;
- Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 02 lần trở lên
- Xả ra môi trường từ 5.000 mét khối (m³)/trở lên đối với nước thải có độ PH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14;
Chủ thể đã bị xử phạt hành chính hoặc xử phạt hình sự chưa được xóa án tích mà tái phạm thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với các hành vi:
- Xả thải ra môi trường từ 1.000 mét khối (m³)/ngày đến 10.000 mét khối (m³)/ngày nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 05 lần đến dưới 10 lần;
- Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép hoặc vượt mức giới hạn theo quy định từ 01 lần đến dưới 02 lần;
- Xả ra môi trường từ 1.000 mét khối (m³)/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m³)/ngày nước thải có độ PH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14; Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Bên cạnh đó, luật cũng quy định cá nhân có thể áp dụng hình thức xử phạt bổ sung bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 235, thì bị phạt tiền từ 1 tỷ đến 10 tỷ. Bị đình chỉ hoạt động từ 6 tháng đến 3 năm hoặc đình chỉ vĩnh viễn. Ngoài ra, còn bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C05) Bộ Công an, trong 11 năm qua (từ năm 2010 đến năm 2020), toàn lực lượng đã phát hiện 170.875 vụ vi phạm pháp luật về môi trường; xử lý hành chính 141.000 vụ, khởi tố 2.624 vụ với 4.357 bị can; xử phạt vi phạm hành chính 97.000 vụ với số tiền 1.166 tỉ đồng. Đặc biệt, đã điều tra, xử lý nhiều vụ phạm tội về môi trường, tập trung vào lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, an toàn thực phẩm. Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy, trong 11 năm từ năm 2010 đến năm 2020, hệ thống tòa án nhân dân đã thụ lý 2.842 vụ án về môi trường với 4.445 bị cáo. Trong đó xét xử 2.237 vụ với 4.145 bị cáo phạm tội về môi trường, chiếm 0,37% tổng số vụ án hình sự đã xét xử. Thực tiễn cho thấy xử lý hình sự các vi phạm về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước trong KCN còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập:
Thứ nhất, trong các tội phạm môi trường, không có tội phạm nào được phân loại là đặc biệt nghiêm trọng, khung hình phạt tối đa cho các tội phạm môi trường chỉ là 10 năm, chưa đủ tính răn đe đối với các vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận. Điển hình như vụ Vedan xả nước thải xuống sông Thị Vải năm 2008, vụ xả thải gây ô nhiễm nước biển miền Trung năm 2016 của Công ty Hưng Nghiệp Formosa, mặc dù gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng không cá nhân hay pháp nhân nào phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là lần đầu tiên chính thức ghi nhận chủ thể chịu trách nhiệm hình sự là pháp nhân (Điều với 33 tội danh; trong đó có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước. Tính đến thời điểm hiện tại, kể từ khi chế định TNHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội được áp dụng, chưa có pháp nhân thương mại nào bị xử lý theo thủ tục tố tụng hình sự về hành vi gây ô nhiễm môi trường, mặc dù các hành vi gây ô nhiễm môi trường diễn ra thường xuyên trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước.
Do đó, kinh nghiệm thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giải quyết các vụ án có pháp nhân thương mại phạm tội chưa có, đặc biệt là đối với các pháp nhân có tổ chức chặt chẽ, dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội và che giấu tội phạm thì càng khó khăn hơn; khi xử lý trường hợp pháp nhân thương mại vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước trong KCN sẽ không tránh khỏi lúng túng, thậm chí cách hiểu và áp dụng pháp luật còn khác nhau, nên rất khó đấu tranh với chủ thể này.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Hiện trạng xả thải vào nguồn nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tài nguyên nước. Theo kết quả điều tra, khảo sát đánh giá hiện trạng xả thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thấy nước thải được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Tổng lưu lượng nước trên địa bàn tỉnh hiện nay khoảng 750.000 m³/ngày, trong đó: nước thải công nghiệp khoảng 450.000 m³/ngày, nước thải sinh hoạt khoảng 300.000 m³/ngày. Tổng lượng chất thải rắn khoảng 7.500 tấn/ngày, trong đó: chất thải công nghiệp khoảng 4.300 tấn/ngày, chất thải đô thị khoảng 2.100 tấn/ngày, chất thải nguy hại khoảng 1.100 tấn/ngày 35. Đối tượng xả nước thải phân tán chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bình Dương chủ yếu là các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hộ chăn nuôi, các hộ sản xuất có quy mô nhỏ và nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình sinh sống gần khu vực các nguồn nước xả trực tiếp không qua hệ thống thu gom tập trung. Ngoài các đối tượng trên còn có nước thải trong sản xuất nông nghiệp và giao thông thủy.
Đến nay, cũng như nhiều địa phương trên cả nước, hệ thống thoát nước của tỉnh còn lạc hậu và thiếu sự đồng bộ cần thiết, chưa đáp ứng dược nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo vệ sinh môi trường. Tại các làng nghề và các KCN, CNN vẫn còn xảy ra hiện tượng ô nhiễm nguồn nước do nước thải công nghiệp xả ra môi trường chưa được xử lý một cách triệt để. Cụ thể như sau:
Hiện nay, trên địa bàn hiện trên địa bàn tỉnh có 32 làng nghề và 9 nghề truyền thống. Các làng nghề truyền thống ở Bình Dương nổi tiếng như: Gốm, sơn mài, chạm khắc, đan lát… không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu đi nhiều nơi trên thế giới. Hiện các làng nghề truyền thống vẫn còn đang hoạt động và duy trì được hiệu quả ở Bình Dương là làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, gốm sứ Tân Phước Khánh, điêu khắc – chạm gỗ An Thạnh, Phú Thọ, làng lợn đất Lái Thiêu… Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển, thu nhập bình quân đầu người ở làng nghề đạt mức khá. Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề đang là vấn đề bức xúc.
- Các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Theo Quy hoạch phát triển tổng thể các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tính đến năm 2022 đã được Chính phủ phê duyệt, đến nay tỉnh Bình Dương đã thành lập được 29 KCN và 09 CCN, trong đó trên địa bàn tỉnh hiện nay có 09 cụm công nghiệp (CCN) với diện tích khoảng 622,6 ha, trong đó 07 CCN đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt 54,4%. 07 CCN này đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, cụ thể: đã lập và phê duyệt báo cáo ĐTM, đã xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung, lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động. Trong 29 khu công nghiệp thì có 17 khu công nghiệp đi vào hoạt động sau Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, các khu công nghiệp này đã được xác nhận hoàn thành công trình, biện pháp bảo vệ môi trường theo báo cáo đánh giá tác động môi trường, đúng theo quy định.
Sự hình thành và phát triển của các KCN, CCN thời gian qua đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động; thúc đẩy tiếp cận và đối mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý; nâng cao mức tăng trưởng GDP, giá trị xuất khẩu, số thu ngân sách và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Lượng nước thải tại các KCN ước tính khoảng 85.291,4 m³/ngày. Hiện tại, do tỷ lệ lấp đầy tại các KCN, CCN còn hạn chế nên đã dẫn đến hệ thống hạ tầng kỹ thuật, thu gom xử lý nước thải chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số doanh nghiệp vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, nhất là các doanh nghiệp quy mô nhỏ; việc đầu tư các công trình bảo vệ môi trường thiếu đồng bộ; vận hành không đúng quy trình công trình bảo vệ môi trường; một số dự án đầu tư trước đây với công nghệ lạc hậu, chưa kịp thời cải tạo hệ thống xử lý môi trường, vẫn còn một số doanh nghiệp vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường. Các cơ quan quản lý chưa chủ động phát hiện và ngăn chặn được các hành vi xả thải vượt tiêu chuẩn. Một số KCN, CCN đã hoạt động nhưng chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung…
2.3. Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp qua thực tiễn tỉnh Bình Dương
2.3.1 Quy định về kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về xử lý nước thải
Mặc dù, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát đã được thực hiện rộng rãi, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:
Thứ nhất, chưa có sự thống nhất trong hoạt động công tác giữa cấp trên và cấp dưới. Cộng với việc nhiều trường hợp bao che, nâng đỡ đặc biệt đối với doanh nghiệp, dịch vụ công dẫn đến vi phạm về bảo vệ môi trường của cơ sở dịch vụ công ích là khá phổ biến, bao gồm: bệnh viện, công ty môi trường đô thị, chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Hầu như những cơ sở này không thực hiện các quy định về BVMT, mặc dù, đã được nhắc nhở, yêu cầu nhiều lần. Thêm vào đó, nhiều địa phương chưa kiên quyết xử lý vi phạm. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Thứ hai, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa hiệu quả do thiếu quy định cụ thể cho phép thanh tra ngoài giờ hành chính, quy định về thanh tra đột xuất rất hạn chế nên thường phải báo trước cho doanh nghiệp dẫn đến không mang lại hiệu quả cao.
Thứ ba, quy định pháp luật vẫn chưa rõ ràng khi không quy định cụ thể trách nhiệm nào thuộc về thanh tra tài nguyên môi trường và trách nhiệm nào thuộc về thanh tra hành chính dẫn đến tình trạng không xác định rõ được trách nhiệm.
Thứ tư, quy định chuyên ngành chung chung đồng thời sự chênh lệch trong ý thức, nhận thức của doanh nghiệp làm khó hoạt động thanh tra. Quy định chặt chẽ, thanh tra liên tục thường xuyên thì gây phiền hà. Doanh nghiệp suốt ngày báo cáo giải trình, tiếp đoàn thanh tra, kiểm tra thì thời gian đâu làm kinh tế. Nhưng ngược lại, quy định chung chung thả lỏng cho doanh nghiệp tự giác là chính thì nhiều doanh nghiệp làm bừa.
2.3.2. Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là một trong những công cụ quản lý quan trọng được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường. Phí BVMT đối với nước thải được xây dựng trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” nhằm tạo động lực để các doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm, đồng thời, tạo nguồn thu do chi trả cho các hoạt động BVMT. Nhận thức được vai trò của công tác BVMT đối với sự phát triển bền vững, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 05/5/2020 nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về phí BVMT đối với nước thải.
- Thứ nhất, quy định về đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đổi với nước thải.
Đối tượng chịu phí BVMT theo quy định tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP là nước thải công nghiệp thải vào nguồn tiếp nhận nước thải theo quy định pháp luật và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp miễn thu phí theo quy định tại Điều 5 Nghị định này. Quy định này về cơ bản tương tự với quy định tại Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về cùng đối tượng điều chỉnh, tuy nhiên lại được bổ sung, hoàn thiện đáng kể. Khắc phục hạn chế của Nghị định số 154/2016/NĐ-CP khi chưa đáp ứng được tính chất gây tác động đến đối tượng điều chỉnh, từ đó dẫn đến tính thiếu căn cứ hợp lý trong việc xác định nghĩa vụ tài chính đối với nước thải, Nghị định số 53/2020/NĐ-CP thể hiện rõ ràng, cụ thể và mang tính khả thi cao hơn khi quy định bổ sung yếu tố “…thải vào nguồn tiếp nhận nước thải theo quy định pháp luật”. Pháp luật đã tạo ra tính phù hợp trong cơ chế điều chỉnh về đối tượng chịu phí.
- Thứ hai, quy định về các trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Theo quy định tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, các trường hợp được miễn phí BVMT đố với nước thải gồm: i) Nưóc xả ra từ các nhà máy thủy điện; ii) Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra; iii) Nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các xã; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các phường, thị trấn chưa có hệ thống cấp nước sạch; hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh ở các phường, thị trấn đã có hệ thống cấp nước sạch tự khai thác nước sử dụng; iv) Nước làm mát theo quy định pháp luật về BVMT không trực tiếp tiếp xúc vối các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng; v) Nước thải từ nước mưa tự nhiên chảy tràn; Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy sản của ngư dân; vii) Nước thải của các hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỷ thuật về môi trường theo quy định trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. Quy định về cơ bản tương tự cơ chế điều chỉnh tại Điều 5, Nghị định số 154/2016/NĐ-CP.
- Thứ ba, quy định về mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải phải nộp.
Mức phí BVMT đối với nước thải tại Nghị định số 154/2016/NĐ-CP được áp dụng đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp. Theo đó, mức phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của lm³ nước sạch chưa bao gồm thuê giá trị gia tăng. Trường hợp cần thiết áp dụng mức thu cao hơn, Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bình Dương quyết định mức cụ thể phù hợp với tình hình thực tế. Đối với nước thải sinh hoạt thải ra từ các tổ chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng trừ hộ gia đình quy định tại khoản 3 và 4 Điều 5 Nghị định này thì mức phí được xác định theo từng người sử dụng nước căn cứ vào số lượng nước sử dụng bình quân của một người trong xã, phường, thị trấn nơi khai thác và giá bán lm³ nước sạch trung bình tại từng địa phương. Đối với nước thải công nghiệp, trường hợp cơ sở sản xuất, chế biến có tổng lượng nước thải dưới 20m³/ngày đêm thì áp dụng mức phí cố định là 1.500.000 đồng/năm, không áp dụng mức phí biến đổi. Trường hợp tổng lượng nước thải từ 20m³/ngày đêm trở lên thì áp dụng đồng thời mức phí cố định và mức phí biến đổi, được quy định cụ thể tại điểm c, Khoản 2, Điếu 6 Nghị định này.
Tương tự cách thức điều chỉnh trên, Nghị định số 53/2020/NĐ-CP cũng quy định về mức phí BVMT đối với nước thải dựa trên tính cân nhắc phù hợp đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp. Bên cạnh việc giữ nguyên căn cứ tính phí đối với nước thải sinh hoạt, Nghị định mới tiến hành điều chỉnh mức phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. Cụ thể, cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm dưới 20 m³/ngày (24 giờ) áp dụng phí cố định tính theo khối lượng nước thải (không áp dụng mức phí biến đổi) là 1.500.000 đồng/năm(năm 2020). Kế từ ngày 01/01/2021 trở đi, áp dụng biểu phí tại điểm a, khoản 2, Điều 6, Nghị định số 53/2020/NĐ-CP. Trường hợp cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm trên 20 m³/ngày (24 giờ) thì ngoài việc áp dụng mức phí cố định là 1.500.000 đồng/ năm (đối với năm 2020), 4.000.000 đồng/năm (kể từ ngày 01/01/2021 trở đi), mức phí BVMT đối với nước thải công nghiệp phải chịu còn bao gồm thêm mức phí cố định với quy định thống nhất như Nghị định số 154/2016/NĐ-CP. Ngoài ra, Nghị định số 53/2020/NĐ-CP còn bổ sung thêm quy định đối với thông số ô nhiễm tính phí, đảm bảo việc xác định được diễn ra khách quan, khoa học, hiệu quả, đánh giá đúng trạng thái môi trường bị tác động do nguồn nước thải ra.
Quy định về mức phí BVMT đối với nước thải tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, xét từ góc độ lý luận đến thực tiễn thi hành là hoàn toàn phù hợp. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Việc điều chỉnh về mức giá BVMT cố định đối với nước thải sinh hoạt là yếu tố tất yếu khách quan. Theo quy định của pháp luật trước đây, các cơ sở có tổng lượng thoát nước thải dưới 20 m³/ngày đêm đều bị áp chung một mức giá cố định là 1.500.000 đồng/ năm là không phù hợp. Xét từ thực tiễn, với cách thức điểu chỉnh này, quy mô xả nước thải là 3m³, 5m³, 10m, 15m³… đều phải chịu chung một mức giá như nhau. Dưới góc độ lý luận, với ý nghĩa của hoạt động thu phí BVMT nhằm mang tính “đền bù ngang giá” các thiệt hại đối với môi trường ứng với hành vi của mỗi chủ thể, việc gây thiệt hại ít sẽ phải bồi thường ít và ngược lại, quy định trên rõ ràng hoàn toàn không phù hợp.
Thực tế cho thấy, một số cơ sở sản xuất trong những lĩnh vực ngành nghề đặc thù sử dụng lưu lượng nước rất ít, dưới 1m³/ngày đêm hoặc thậm chí sử dụng chưa đến 10 m³/tháng như cơ khí, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng,… hoặc có những cơ sở sản xuất gần như không sử dụng nước trong hoạt động sản xuất như may mặc mà không dệt nhuộm, thạch cao… Khi tiến hành thu phí, các địa phương gặp không ít khó khăn vì bị các cơ sở này phản đối gay gắt. Các cơ sở sản xuất sử dụng lưu lượng thấp cho rằng quy định thu phí cố định 2.500.000 đồng/năm đối với tất cả các ngành nghề tạo sự bất bình đẳng lớn giữa các cơ sở sản xuất bởi không thể đánh đồng giữa cơ sở sản xuất chỉ sử dụng dưới lm³/ngày đêm với cơ sở sản xuất sử dụng gần 5m³/ngày đêm. Trong khi đó, các cơ sở sản xuất không sử dụng nước như may mặc, thạch cao… phản đối việc nộp phí, họ cho rằng họ không sử dụng nước cho việc sản xuất thì không phải chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp.
- Thứ tư, quy định về kê khai, thẩm định tờ khai và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Nghị định số 53/2020/NĐ-CP có sự phân hóa cụ thể trình tự, quy trình đối với thu-nộp phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp. Tùy thuộc vào nguồn gốc nước sử dụng mà có cơ chế điều chỉnh đặc thù. Trường hợp sử dụng nước từ tổ chức cung cấp nước sạch, người nộp phí thực hiện nộp phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt cùng với thanh toán tiền sử dụng nước sạch theo hóa đơn bán hàng cho tổ chức cung cấp nước sạch. Trường hợp tự khai thác nước để sử dụng, hàng quý, người nộp phí kê khai phí với Ủy ban nhân dân (UBND) phường, thị trấn, thị xã trên địa bàn tỉnh và nộp phí vào tài khoản “Tạm thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt” của UBND phường, xã, thị trấn. Căn cứ khai, nộp phí là số lượng nước tự khai thác sử dụng trong quý, giá bán nước sạch và mức phí theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định này. Tùy thuộc vào từng trường hợp thu phí nhất định để xác định cụ thể nghĩa vụ tổ chức thu phí phù hợp. Trình tự tiến hành đối với nước thải sinh hoạt, tùy thuộc vào tổng lượng quy mô xả thải (trên/dưới 20m³/ngày đêm) mà trách nhiệm của người nộp thuế được xác định khác nhau. Đối với cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm tính phí từ 20m³ ngày trở lên, hàng quý, người nộp phí kê khai phí với tổ chức thu phí và nộp phí vào tài khoản “Tạm thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp” của tổ chức thu phí mở tại Kho bạc Nhà nước; nộp bổ sung số phí phải nộp theo Thông báo của tổ chức thu phí (nếu có) trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có Thông báo. Đối với cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 20m³/ngày đêm thì nộp phí cố định theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Nghị định này, người nộp phí thực hiện kê khai phí một lần với tổ chức thu phí khi mới bắt đầu hoạt động; nộp phí một lần cho cả năm theo Thông báo của tổ chức thu phí.
Quy định của Nghị định 53/2020/NĐ-CP về kê khai, thẩm định tờ khai và nộp phí là hiệu quả và mang tính khả thi. Việc xác định về quy mô tổng lượng xả thải nước làm căn cứ xác định trách nhiệm tổ chức thu-nộp phí và các trách nhiệm khác có liên quan, xác định về trình tự, thủ tục và các yêu cầu trong quá trình thu-nộp phí BVMT tạo tính phù hợp, tính hiệu quả trong việc xác định hợp lý mức thu phí bù đắp cho chi phí xử lý ô nhiễm môi trường hạn chế tối đa tính nặng nề về thủ tục hành chính giúp cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
- Thứ năm, quy định chất gây ô nhiễm tính phí.
Nghị định 53/2020/NĐ-CP quy định thu phí BVMT đối với 06 chất gây ô nhiễm. Xét về mặt lí thuyết môi trường, việc thu phí đối với tất cả các chất gây ô nhiễm giúp phản ánh được đúng bản chất và mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường của phí BVMT. Tuy nhiên, theo phản ánh của các địa phương, quy định thu phí BVMT đối với 06 chất gây ô nhiễm đã tạo nên những áp lực và khó khăn cho các địa phương trong việc thu phí. Mặc dù phí BVMT đối với nước thải đã được thực hiện gần 20 năm nhưng điều kiện về nguồn lực và phương tiện thu phí của các địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng việc thu phí phức tạp với nhiều chất gây ô nhiễm. Thêm vào đó, việc quy định thu phí BVMT đối với 04 kim loại nặng cho tất cả ngành nghề vô cùng bất hợp lý. Trên thực tế, mỗi loại hình sản xuất công nghiệp có một đặc thù riêng, công nghệ sản xuất đa dạng nên việc phát thải gây ô nhiễm khác nhau, không phải ngành sản xuất công nghiệp nào cũng phát sinh nước thải chứa 04 kim loại nặng như quy định của Nghị định số 53/2020/NĐ-CP. Chi phí thực tế về việc lấy mẫu, phân tích hàm lượng thông số ô nhiễm cao, thậm chí, có trường hợp cao hơn số phí thu được từ cơ sở sản xuất. Do chi phí lấy mẫu tốn kém, nên nhiều địa phương chi tiến hành lấy mẫu phân tích thông số ô nhiễm theo xác suất. Việc xác định thông số ô nhiễm tính phí chủ yếu dựa vào sự kê khai của cơ sở sản xuất. Có nhiều trường hợp kê khai không trung thực nên việc xác định số phí cơ sở sản xuất phải nộp cũng không chính xác. Điều này làm giảm hiệu lực và hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường của phí BVMT.
2.3.3. Xử lý vi phạm
Thời gian qua, việc triển khai thực hiện Nghị định 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh đã phát huy những mặt tích cực. Cụ thể, ý thức của các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường được nâng lên rõ rệt. Việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất trong và ngoài khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh được thực hiện khá tốt; đa số các cơ sở sản xuất đã lập và qua cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ môi trường; chủ động xây dựng các công trình xử lý nước thải trước khi đi vào vận hành chính thức. Các cơ sở chăn nuôi có quy mô trung bình trở lên đều nằm xa khu dân cư, có hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống biogas để xử lý nước thải… Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Đặc biệt, số vụ vi phạm trong lĩnh vực môi trường giảm đáng kể. Theo báo cáo của UBND tỉnh Bình Dương năm 2022. Đối với cấp tỉnh: đã ban hành Kết luận thanh, kiểm tra đối với 15 đơn vị (trong đó có 07 đơn vị vi phạm với số tiền 3,06 tỷ đồng), 02 đơn vị đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh, đang tổng hợp báo cáo kết quả kiểm tra đối với 167 đơn vị. Tiến hành thanh tra đột xuất đối với 47 đơn vị, kết quả đã ban hành kết luận thanh, kiểm tra đối với 24 đơn vị (trong đó có 13 đơn vị vi phạm với số tiền 2,52 tỷ đồng), đang tổng hợp báo cáo kết quả thanh, kiểm tra đối với 23 đơn vị. Ngoài ra, phối hợp Phòng Cảnh sát Môi trường; Ban quản lý các Khu công nghiệp xử lý vi phạm đối với 208 đơn vị do với tổng số tiền xử phạt khoảng 22 tỷ đồng, thu số lợi bất hợp pháp với tổng số tiền khoảng 2,9 tỷ đồng. Đối với cấp huyện, đã xử phạt vi phạm hành chính đối với 118 đơn vị với tổng số tiền 13.024.425.000 đồng.41
Mặc dù đà phát huy nhưng mặt tích cực, song, việc áp dụng Nghị định 45/2022/NĐ-CP tại tỉnh đang bộc lộ một số bất cập, trong đó có quy định biện pháp khắc phục hậu quả của một số hành vi là Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp do thực hiện hành vi vi phạm gây ra. Tuy nhiên việc tính số lợi bất hợp pháp theo khoản 3 Điều 4 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP còn gặp nhiều khó khăn do giá dịch vụ xử lý nước thải, khí thải của mỗi loại hình khác nhau thì giá khác nhau. Việc tham khảo giá xử lý từ khu công nghiệp gần nhất không hợp lý do hầu hết các cơ sở đã xử lý sơ bộ để nước thải đạt quy chuẩn đầu vào của KCN trước khi đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung KCN hoặc là loại hình sản xuất kinh doanh không đầu tư trong KCN (ví dụ khai thác khoáng sản). Điều này dẫn đến việc thu số lợi bất hợp pháp theo quy định tại Nghị định số 45/2022/NĐ-CP còn gặp nhiều khó khăn.
Hành vi vi phạm các quy định về xả nước thải, vi phạm các quy định về thải bụi, khí thải: Các hành vi vi phạm này được quy định chia ra khá nhiều điểm và quá chi tiết. Bên cạnh đó mức độ xử phạt các hành vi này mới căn cứ vào lưu lượng và thông số môi trường mà lại không có căn cứ thêm dựa trên thời gian xả thải để xác định tổng lượng xả thải. Bởi vì tổng lượng xả thải mới là cơ sở quan trọng để đánh giá chính xác mức độ gây ô nhiễm đến môi trường của hành vi vi phạm.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
Trong chương hai, thông qua việc tiến hành nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp và thực tế tại tỉnh Bình Dương. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự tuân thủ và thực hiện quy định pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp tại tỉnh đang tồn tại một số hạn chế và khó khăn.
Thứ nhất, trong bối cảnh này việc nghiên cứu và phân tích đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp. Những kết quả phân tích chính quyết định cho thấy sự chồng chéo, bất cập giữa quy định và thực tế, đặc biệt là trong việc áp dụng, giám sát và xử lý vi phạm. Điều này cho thấy cần thiết phải điều chỉnh và bổ sung các quy định để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong quản lý nước thải công nghiệp.
Thứ hai, sự phối hợp với các cơ quan chức năng cũng đã được thúc đẩy thông qua việc trình bày kết quả nghiên cứu và đề xuất. Điều này làm nền tảng cho quá trình thảo luận, đánh giá và điều chỉnh các biện pháp cải tiến. Hỗ trợ và tư vấn trong quá trình thay đổi cũng giúp đảm bảo rằng những điều chỉnh được thực hiện một cách hiệu quả và phù hợp với thực tế của tỉnh Bình Dương.
Cuối cùng, việc này không chỉ là việc hoàn thiện quy định pháp luật mà còn đóng góp vào việc thúc đẩy sự nâng cao chất lượng xử lý nước thải công nghiệp tại tỉnh. Qua việc liên kết giữa lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu này định hướng cho sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, hướng đến mục tiêu chung của việc xử lý nước thải công nghiệp hiệu quả hơn và bảo vệ tài nguyên môi trường cho cộng đồng và thế hệ tương lai. Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương