Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Địa vị pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Mỗi chủ thể có thể có nhiều tư cách trong nhiều mối quan hệ hoặc trong cùng một mối quan hệ pháp lý. Trong đó, địa vị pháp lý của một chủ thể dù là của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay bất kỳ chủ thể khác chính là tư cách của chủ thể đó khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật cụ thể. Địa vị pháp lý thể hiện vị thế cũng như vai trò của chủ thể đó trong mối tương quan với các chủ thể khác, gắn liền với nó là quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý tương ứng. Địa vị pháp lý là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người và cũng là xuất phát điểm để gỡ rối tranh chấp trong tố tụng. Muốn tìm ra địa vị pháp lý thì phải xác định được mối tương quan pháp lý của các bên trong giao dịch hay quan hệ dân sự.
Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp có quyền lấy danh nghĩa của Doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động trong khuôn khổ pháp luật cho phép và còn là người đảm nhiệm việc hoàn thành những quyền hạn, nghĩa vụ của Doanh nghiệp được ,tạo ra từ các giao dịch hợp pháp của Doanh nghiệp. Ngoài ra, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp cũng là cá thể thay mặt cho Doanh nghiệp làm việc với Trọng tài, Toà án, các đơn vị ban ngành khác. Do vậy, địa vị pháp lý của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp là Đại diện hợp pháp cho Doanh nghiệp trong các giao dịch dân sự của Doanh nghiệp với đối tác, khách hàng; thay mặt Doanh nghiệp làm việc với các cơ quan có thẩm quyền và đồng thời cũng Đại diện cho Doanh nghiệp trong tố tụng dân sự với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Kế thừa những thay đổi tích cực từ Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật doanh nghiệp năm 2020 tiếp tục sửa đổi, bổ sung thêm một số quy định về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Cụ thể là bổ sung tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự cho Doanh nghiệp vào khái niệm Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Và Luật doanh nghiệp năm 2020 còn có thêm quy định chi tiết về trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng Người đại diện theo pháp luật chưa được quy định trong điều lệ Công ty trách nhiệm hữu hạn hay Công ty cổ phần nếu công ty có nhiều NĐĐTPL. Theo đó, ở trường hợp này thì mỗi Người đại diện theo pháp luật của công ty đều có tư cách pháp lý là người đại diện có đầy đủ thẩm quyền của Doanh nghiệp trước bên thứ ba và tất cả Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới nếu một trong những Người đại diện theo pháp luật gây thiệt hại cho công ty.
Tại Điều 135 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền Đại diện của một chủ thể được hình thành dựa trên việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hoặc do Doanh nghiệp tự quy định trong điều lệ hoặc từ các quy định pháp luật khác.Vì vậy, ngoại trừ trường hợp điều lệ của Doanh nghiệp không quy định hoặc trường hợp do Toà án hay cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác chỉ định và trường hợp của Doanh nghiệp tư nhân thì có thể nói rằng NĐDTPL của Doanh nghiệp được xác lập tư cách pháp lý kể từ khi điều lệ của Doanh nghiệp có hiệu lực.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.Tiêu chuẩn, điều kiện trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
2.2.1.Tiêu chuẩn chung về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2015 về Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thì những cá nhân sau đây có thể làm Đại diện theo pháp luật của công ty, gồm có: (i)người được chỉ định căn cứ theo điều lệ của công ty; (ii)người có thẩm quyền Đại diện mà pháp luật đã quy định; (iii)cá nhân khác thông qua quyết định chỉ định của Toà án trong quá trình tố tụng. Tiêu chuẩn chung để một cá nhân có thể đảm nhiệm vai trò Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là phải có đủ năng lực hành vi dân sự vì nếu Người đại diện theo pháp luật bị mất hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì công ty sẽ phải cử người khác làm NDĐDTPL.
Ngoài ra, đối với khu vực kinh tế tư nhân, vì Người đại diện theo pháp luật là người sẽ thay mặt Doanh nghiệp điều hành mọi hoạt động của Doanh nghiệp nên Người đại diện theo pháp luật cũng phải không thuộc đối tượng bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp. Cụ thể, những cá nhân không được pháp luật cho phép thành lập, quản lý doanh nghiệp bao gồm các cán bộ, những người làm việc trong các cơ quan Nhà nước theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; quân nhân, nhân viên quốc phòng; công an viên, nhân viên biên chế thuộc Bộ Công an…trừ những cá nhân được phân công làm người Đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn của Nhà nước tại Doanh nghiệp hoặc đang quản lý Doanh nghiệp Nhà nước. Quy định như vậy giúp phòng tránh tình trạng xung đột lợi ích, thất thoát tài sản Nhà nước, đảm bảo an ninh quốc phòng khi một người vừa làm việc trong các cơ quan Nhà nước vừa đảm trách làm Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
2.2.2.Tiêu chuẩn, điều kiện để trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo mỗi loại doanh nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Tuỳ theo từng loại hình Doanh nghiệp và tùy theo quy định của mỗi công ty mà Người đại diện theo pháp luật sẽ có tiêu chuẩn cụ thể khác nhau. Trong đa số các quy định về tiêu chuẩn dành cho Người đại diện theo pháp luật cuả Doanh nghiệp thường có quy định là kèm theo điều kiện khác do công ty quy định. Đây là một trong những điểm cho thấy Nhà nước luôn khuyến khích tính tự chủ của Doanh nghiệp, nhất là tôn trọng sự lựa chọn của Doanh nghiệp trong vấn đề bổ nhiệm Người đại diện theo pháp luật phù hợp với môi trường kinh doanh và định hướng phát triển của Doanh nghiệp. Cụ thể:
2.2.2.1.Đối với người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Những người được bổ nhiệm hoặc giữ trọng trách là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc có thể đảm nhiệm Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp trong Công ty trách nhiệm hữu hạn Hai thành viên trở lên. Trường hợp không có quy định cụ thể trong điều lệ của công ty thì Chủ tịch Hội đồng thành viên sẽ là Người đại diện theo pháp luật của công ty (Khoản 3 Điều 54 Luật doanh nghiệp năm 2020). Quy định chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện các chức danh trên:
Chức danh chủ tịch Hội đồng thành viên: Căn cứ theo quy định của khoản 1 Điều 56 Luật doanh nghiệp năm 2020, Chủ tịch Hội đồng thành viên là một thành viên được bầu ra bởi Hội đồng thành viên. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiêm nhiệm làm Tổng Giám đốc, Giám đốc.
Chức danh Giám đốc, Tổng giám đốc: ngoài việc phải đảm bảo đủ kiến thức chuyên ngành và kinh nghiệm nhất định trong việc quản trị kinh doanh của công ty thì còn phải đáp ứng những điều kiện khác do công ty quy định trong điều lệ (Điều 64 Luật doanh nghiệp năm 2020). Riêng đối với Doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ hoặc Nhà nước sở hữu trên 50% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và đối với công ty con của Doanh nghiệp NN thì ngoài tiêu chuẩn, điều kiện trên, Tổng Giám đốc, Giám đốc không được là người có quan hệ thân thích với người quản lý công ty, Kiểm soát viên của công ty và của công ty mẹ; người Đại diện phần vốn của doanh nghiệp, người Đại diện phần vốn Nhà nước tại công ty và công ty mẹ. Điều này cho thấy các nhà làm luật ở Việt Nam khá thận trọng đối với vấn đề quản lý phần vốn thuộc sở hữu Nhà nước. Vì thế, hầu hết Người đại diện theo pháp luật của các Doanh nghiệp Nhà nước hoặc có vốn góp Nhà nước đều do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý Doanh nghiệp đó bổ nhiệm. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
2.2.2.2.Đối với người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên, khi thành lập tùy theo do tổ chức làm chủ sở hữu hay cá nhân làm chủ sở hữu mà sẽ có sự khác nhau trong việc xác định mô hình quản lý doanh nghiệp, xác định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tương ứng với các chức danh trong mô hình Doanh nghiệp đó.
Trong Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên có chủ sở hữu là tổ chức thì phải có tối thiểu một Người đại diện theo pháp luật là người giữ một trong các chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc. Nếu như điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là Người đại diện theo pháp luật của công ty (Khoản 3 Điều 79 Luật doanh nghiệp năm 2020). Trong đó, Chủ tịch Hội đồng thành viên do chủ sở hữu công ty bổ nhiệm hoặc do các thành viên Hội đồng thành viên nhất trí bầu chọn ra theo nguyên tắc quá bán đảm bảo tuân thủ tuyệt đối trình tự, thủ tục quy định đã nêu trong điều lệ của doanh nghiệp (Khoản 3 Điều 80 Luật doanh nghiệp năm 2020); Chủ tịch công ty do chủ sở hữu công ty bổ nhiệm (Khoản 1 Điều 81 Luật doanh nghiệp năm 2020). Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty có thể kiêm nhiệm hoặc thuê người khác làm Tổng GĐ, GĐ; không bao gồm những trường hợp do pháp luật hay điều lệ công ty có quy định khác(Khoản 1 Điều 82 Luật doanh nghiệp năm 2020).
Tổng Giám đốc, Giám đốc phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau: có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty và điều kiện khác do điều lệ công ty quy định (Khoản 3 Điều 82 Luật doanh nghiệp năm 2020).
Trong Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên có chủ sở hữu là cá nhân, Chủ sở hữu công ty là Chủ tịch công ty và có thể kiêm hoặc thuê người khác làm Tổng Giám đốc, Giám đốc (Khoản 2 Điều 85 Luật doanh nghiệp năm 2020). Và công ty phải có ít nhất một Người đại diện theo pháp luật là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch công ty hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc. Tiêu chuẩn và điều kiện của Tổng Giám đốc, Giám đốc tương tự như trong Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên có chủ sở hữu là tổ chức.
2.2.2.3. Đối với người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần
Các chức danh có thể là Người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần gồm có: Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc. Trong trường hợp điều lệ công ty chưa quy định thì Người đại diện theo pháp luật của công ty là Chủ tịch Hội đồng quản trị. Và nếu công ty theo mô hình có nhiều Người đại diện theo pháp luật thì một trong các Người đại diện theo pháp luật của công ty phải là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc (Khoản 2 Điều 137 Luật doanh nghiệp năm 2020). Do vậy, tiêu chuẩn, điều kiện về Người đại diện theo pháp luật của Cty CP cũng là tiêu chuẩn, điều kiện của các chức danh trên. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Đối với chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị: Chủ tịch Hội đồng quản trị là thành viên do Hội đồng quản trị bầu ra (Khoản 1 Điều 156 Luật doanh nghiệp năm 2020). Do vậy, Chủ tịch Hội đồng quản trị phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện mà thành viên Hội đồng quản trị phải có sau đây: là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty nhưng không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác; đối với Doanh nghiệp Nhà nước là Công ty cổ phần mà Nhà nước sở hữu nhiều hơn 50% vốn điều lệ hay tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Nhà nước trên 50% và công ty con của Doanh nghiệp Nhà nước thì thành viên Hội đồng quản trị không được là người có quan hệ gia đình của Tổng Giám đốc, Giám đốc và người quản lý khác của công ty; của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ (Điều 155 Luật doanh nghiệp năm 2020).
Ngoài ra, Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm làm Tổng Giám đốc, Giám đốc công ty trừ trường hợp công ty đại chúng và Công ty cổ phần ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và nếu điều lệ công ty hoặc pháp luật về chứng khoán không có quy định khác.
Đối với chức danh Tổng Giám đốc, Giám đốc của Công ty cổ phần: Tổng Giám đốc, Giám đốc của Công ty cổ phần có thể là thành viên Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị bổ nhiệm hoặc một người được thuê bởi Hội đồng quản trị để điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty (Khoản 1 Điều 162 Luật doanh nghiệp năm 2020); có đủ năng lực hành vi dân sự đồng thời đáp ứng được tiêu chuẩn mà điều lệ công ty hay Quy chế quản lý lao động của công ty quy định, ngoại trừ pháp luật có quy định khác.
Đối với Doanh nghiệp Nhà nước là Công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; công ty con của Doanh nghiệp Nhà nước; công ty đại chúng thì Tổng Giám đốc, Giám đốc không được là người có quan hệ thân thích của người quản lý công ty, Kiểm soát viên của công ty và của công ty mẹ hay người Đại diện phần vốn của doanh nghiệp, người Đại diện phần vốn Nhà nước tại công ty và công ty mẹ và có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty (Khoản 5 Điều 162 Luật doanh nghiệp năm 2020).
2.2.2.4. Đối với người đại diện theo pháp luật của Công ty Hợp danh
Theo quy định tại khoản 1 Điều 184 Luật doanh nghiệp năm 2020, Người đại diện theo pháp luật của Cty HD là chính các thành viên hợp danh nên tiêu chuẩn, điều kiện về thành viên hợp danh cũng là tiêu chuẩn mà Người đại diện theo pháp luật của Cty HD cần có. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Bao gồm các tiêu chuẩn, điều kiện sau: là cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (Điểm b Khoản 1 Điều 177 Luật doanh nghiệp năm 2020); không được làm chủ Doanh nghiệp tư nhân, không được làm thành viên hợp danh của Công ty hợp danh khác trừ trường hợp được các thành viên hợp danh còn lại nhất trí đồng ý (Khoản 1 Điều 180 Luật doanh nghiệp năm 2020).
2.2.2.5. Đối với người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân
Đối với loại hình Doanh nghiệp tư nhân thì pháp luật quy định chủ Doanh nghiệp tư nhân là Người đại diện theo pháp luật (Khoản 3 Điều 190 Luật doanh nghiệp năm 2020). Mỗi cá nhân chỉ được thành lập duy nhất một Doanh nghiệp DTN, phải tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân bằng toàn bộ tài sản của mình. Và chủ Doanh nghiệp tư nhân cũng không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc thành viên hợp danh của Công ty hợp danh (Điều 188 Luật doanh nghiệp năm 2020). Bởi vì cả chủ Doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ kinh doanh và thành viên hợp danh của Công ty hợp danh đều là những chủ thể phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của mình bằng tất cả tài sản mình sở hữu nên việc tham gia vào các Doanh nghiệp khác nhau cùng lúc sẽ làm phát sinh nhiều rủi ro, mâu thuẫn trong xử lý lợi nhuận hoặc công nợ của Doanh nghiệp.
2.3. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
2.3.1. Quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Với cương vị là người được quyền nhân danh Doanh nghiệp trong hoạt động của Doanh nghiệp, Người đại diện theo pháp luật có những quyền đồng thời cũng là nhiệm vụ theo luật định, có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở các việc sau:
Thứ nhất, trực tiếp ký tên trên các văn bản, giấy tờ chính thức của Doanh nghiệp sau:
Thông báo về việc Tăng, giảm vốn điều lệ gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh; Điều lệ của Công ty cổ phần khi đăng ký doanh nghiệp trừ trường hợp đã có chữ ký của các cổ đông phổ thông; Cổ phiếu do Công ty cổ phần phát hành đồng thời Người đại diện theo pháp luật sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra do sai sót về hình thức và nội dung của cổ phiếu; Thông báo về việc Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu; cùng với Chủ tịch Hội đồng quản trị ký tên trên Thông báo về trả cổ tức của Công ty cổ phần.
Thứ hai, đối với Doanh nghiệp Nhà nước, Người đại diện theo pháp luật có nhiệm vụ phải công bố thông tin hoặc uỷ quyền cho người khác công bố thông tin định kỳ trên trang thông tin điện tử của Doanh nghiệp, của cơ quan đại diện cho chủ sở hữu và chịu trách nhiệm đảm bảo các thông tin đó là chính xác, đầy đủ, được cung cấp một cách kịp thời, trung thực.
Thứ ba, ở trường hợp mô hình công ty mẹ – công ty con, để phục vụ việc công ty mẹ lập báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tổng hợp, Người đại diện theo pháp luật của công ty con có nhiệm vụ cung cấp các báo cáo, thông tin và tài liệu cần thiết theo quy định nếu có yêu cầu từ Người đại diện theo pháp luật của công ty mẹ.
Thứ tư, khi Doanh nghiệp giải thể, trong thời hạn năm ngày làm việc tính từ ngày Doanh nghiệp được xác nhận thanh toán hết các khoản nợ, Người đại diện theo pháp luật có nhiệm vụ phải nộp bộ hồ sơ giải thể của Doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh. Cùng với thành viên Hội đồng quản trị (đối với Công ty cổ phần), thành viên Hội đồng thành viên (đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn), chủ sở hữu công ty, chủ DNTN, thành viên hợp danh (của Công ty hợp danh), Giám đốc/Tổng Giám đốc, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của bộ hồ sơ giải thể Doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Thứ năm, về lĩnh vực kế toán của Doanh nghiệp, Người đại diện theo pháp luật có quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Ký tên trong Sổ kết toán cùng với người lập và Kế toán trưởng của Doanh nghiệp;
- Ký và chịu trách nhiệm về nội dung của Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp (cùng người lập, Kế toán trưởng);
- Chịu trách nhiệm chính trong công tác tổ chức bảo quản, lưu trữ những tài liệu kế toán;
- Tổ chức bộ máy kế toán, bố trí kế toán viên, bổ nhiệm Kế toán trưởng hoặc ra quyết định thuê dịch vụ làm kế toán, kế toán trưởng, ngoại trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác;
Thực hiện tổ chức và chỉ đạo công tác về kế toán của Doanh nghiệp, trực tiếp chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra do sai phạm của bản thân Người đại diện theo pháp luật và liên đới chịu trách nhiệm nếu sai sót do người khác làm nhưng trực thuộc quản lý của Người đại diện theo pháp luật. Ngoài ra, theo Luật doanh nghiệp năm 2020, nếu Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp giữ chức danh Tổng
Giám đốc hoặc Giám đốc thì họ có các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản cụ thể như sau:
- Là người trực tiếp tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;
- Ký ban hành các quyết định về những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty mà không thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;
- Chỉ đạo, tổ chức việc thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;
- Trực tiếp ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác;
- Ký các quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;
- Trực tiếp ký kết hoặc uỷ quyền cho các cá nhân khác ký kết các hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;
- Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức công ty; Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
- Là người trực tiếp trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị; đồng thời là người đưa ra các kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;
- Tổ chức tuyển dụng lao động; quyền và nghĩa vụ khác được quy định tại điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà Người đại diện theo pháp luật đã ký với Chủ tịch công ty, ký với công ty theo nghị quyết của HDTV, Hội đồng quản trị.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của từng loại hình Doanh nghiệp và điều lệ của Doanh nghiệp mà Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm thêm Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc. Đối với các chức danh kiêm nhiệm như vậy, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Người đại diện theo pháp luật giữ chức danh Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc thì những người này còn phải hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, cụ thể như sau:
- Xây dựng, chuẩn bị chương trình, kế hoạch hành động của Hội đồng thành viên, HĐQT;
- Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu cho cuộc họp của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;
- Triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;
- Chủ toạ cuộc họp Đại hội đồng cổ đông; tổ chức việc thông qua nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;
- Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị; thay mặt Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị ký các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị; quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ công ty.
Về quyền tuyển dụng lao động của Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, trong khi điểm a khoản 3 Điều 18 Bộ Luật lao động năm 2019 quy định người được quyền giao kết hợp đồng lao động ở bên phía sử dụng lao động phải là Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được uỷ quyền của Người đại diện theo pháp luật thì Luật doanh nghiệp năm 2020 chỉ quy định về việc tuyển dụng trong quyền và nghĩa vụ của Tổng Giám đốc, Giám đốc. Câu hỏi đặt ra là nếu Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp không phải là Tổng Giám đốc, Giám đốc mà là Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị thì những chức danh này có được phép tuyển dụng lao động hay không. Ngược lại, nếu Tổng Giám đốc, Giám đốc không phải là Người đại diện theo pháp luật của công ty thì việc họ giao kết hợp đồng lao động với người lao động theo như quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 lại trở nên mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Lao động năm 2019. Để giải quyết vấn đề này, có y kiến cho rằng “nên quy định thêm Giám đốc/Tổng giám đốc phải là người đại diện theo pháp luật” Song theo người viết thì không nên quy định cố định Người đại diện theo pháp luật là Tổng Giám đốc, Giám đốc vì như vậy sẽ gây khó cho doanh nghiệp, tước mất quyền tự quyết của Doanh nghiệp. Mà chỉ nên bỏ quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2020 về việc Tổng Giám đốc, Giám đốc có quyền, nghĩa vụ tuyển dụng lao động.
Ngoài ra, nếu là Người đại diện theo pháp luật của Cty HD thì có nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 181 Luật doanh nghiệp năm 2020 như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
- Trực tiếp họp, tham gia thảo luận và biểu quyết về các vấn đề của công ty;
- Mỗi TVHD có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác được quy định cụ thể trong điều lệ của công ty;
- TVHD có quyền lấy danh nghĩa công ty để kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty, trong khi thành viên góp vốn thì không được;
- Bởi vì TVHD cũng chính là Người đại diện theo pháp luật của Công ty hợp danh nên có quyền nhân danh công ty công ty đàm phán và ký kết hợp đồng, giao dịch hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên đó cho là có lợi nhất cho công ty đồng thời có quyền sử dụng tài sản và con dấu của công ty để thực hiện hoạt động kinh doanh trong các ngành, nghề kinh doanh mà công ty có đăng ký;
- Trường hợp ứng trước tiền của mình để kinh doanh cho công ty thì có quyền yêu cầu công ty hoàn trả lại cả số tiền gốc và lãi theo lãi suất thị trường trên số tiền đã ứng trước;
- Yêu cầu công ty bù đắp thiệt hại từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi nhiệm vụ được phân công nếu thiệt hại đó xảy ra không do sai sót cá nhân của thành viên đó;
- Yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty;
- Có quyền kiểm tra tài sản, sổ kế toán và tài liệu khác của công ty khi thấy cần thiết;
- Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ công ty.
Chính vì đảm nhận những nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng như vậy nên các nhà làm luật thấy rằng sự hiện diện của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tại Doanh nghiệp, hay nói cách khác là tại Việt Nam là rất cần thiết. Tại khoản 3 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020, có sự thay đổi so với quy định cũ tại khoản 3 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014. Trong khi khoản 3 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014 nói đến trường hợp Doanh nghiệp chỉ có một Người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và uỷ quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật khi rời khỏi Việt Nam, nghĩa là đã bỏ qua trường hợp Doanh nghiệp có nhiều Người đại diện theo pháp luật. Để khắc phục thiếu sót này, khoản 3 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định rõ ràng hơn, cụ thể: “Khi chỉ còn lại một Người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải uỷ quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật.” Như vậy, có thể thấy, Doanh nghiệp phải luôn bảo đảm có người đảm nhiệm vai trò của Người đại diện theo pháp luật và người đó phải có mặt tại Việt Nam kể cả khi đó là người được ủy quyền của Người đại diện theo pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Ngoài ra, có thể thấy được rằng Khoản 5 và Khoản 6 của Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 cũng được sửa đổi, bổ sung. Đối với việc cử người khác làm Người đại diện theo pháp luật của công ty, khoản 5 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 nêu rõ khi Doanh nghiệp chỉ còn một Người đại diện theo pháp luật và người đó lại vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không có uỷ quyền cho người nào khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; hoặc vì một lý do khác không thể tiếp tục làm Người đại diện theo pháp luật cho Doanh nghiệp ví dụ như bị chết…thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, HDQT phải cử một cá nhân khác làm Người đại diện theo pháp luật của công ty. Như vậy tình huống Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp bị kết án tù đã bị bãi bỏ thay bằng đang chấp hành hình phạt tù đồng thời bổ sung thêm trường hợp Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhận thức khó khăn, không thể làm chủ hành vi của chính mình hay bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc cụ thể bởi quyết định của Toà án.
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, về việc thành viên còn lại đương nhiên làm Người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về Người đại diện theo pháp luật của công ty trong lúc mà Người đại diện theo pháp luật vắng mặt ở một số trường hợp đặc biệt, so với khoản 6 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014, khoản 6 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 đã thay thế trường hợp nếu có cá nhân là thành viên làm Người đại diện theo pháp luật của công ty bị kết án tù bằng trường hợp Người đại diện theo pháp luật đang chấp hành hình phạt tù; trường hợp quyền thực hành nghề nghiệp của Người đại diện theo pháp luật bị Toà án tước bỏ do buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hành nhái, kinh doanh trái phép, cố ý không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, lừa đảo người tiêu dùng cùng với một số tội danh khác theo quy định của Bộ luật hình sự được thay bằng tình huống Người đại diện theo pháp luật bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định bởi Toà án có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Luật doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định thêm là thành viên còn lại đương nhiên làm Người đại diện theo pháp luật của Công ty trách nhiệm hữu hạn Hai thành viên nếu Người đại diện theo pháp luật của công ty chết, bị mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phải thi hành bắt buộc biện pháp xử lý hành chính trong cơ sở cai nghiện bắt buộc hay cơ sở giáo dục bắt buộc, nhận thức khó khăn hoặc không làm chủ được hành vi của chính mình.
Riêng đối với Doanh nghiệp tư nhân, vì Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp cũng chính là chủ sở hữu do vậy chủ Doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp tư nhân cũng như việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật (Khoản 3 Điều 190 Luật doanh nghiệp năm 2020). Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép chủ Doanh nghiệp tư nhân thuê người khác làm Tổng Giám đốc, Giám đốc để quản lý, điều hành hoạt động của Doanh nghiệp nhưng người chịu trách nhiệm trước pháp luật vẫn là chủ Doanh nghiệp tư nhân (Khoản 2 Điều 190 Luật doanh nghiệp năm 2020).
2.3.2. Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Với vị thế là người chịu trách nhiệm chính đối với các hoạt động của Doanh nghiệp trước pháp luật và trước các đối tác khách hàng, Người đại diện theo pháp luật không chỉ phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình mà còn phải hoàn thành tất cả nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
- Về trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp:
Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020, mỗi Doanh nghiệp khi thành lập ra đều cần tối thiểu một Người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Đồng thời, Luật cũng đã có các quy định chi tiết về trách nhiệm dành cho Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Vì Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thẩm quyền đối với hầu hết mọi hoạt động của Doanh nghiệp nên việc ban hành quy định về trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp thực sự rất cần thiết.
Cụ thể, theo Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2020, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp có các trách nhiệm sau đây:
Thứ nhất, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp phải trung thực, cẩn trọng, tốt nhất khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do những từ “trung thực, cẩn trọng, tốt nhất” là những từ mang tính chất định tính nên trên thực tế khó mà xác định được hành vi của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp ở mức độ như thế nào là bị coi là vi phạm quy định về trách nhiệm phải hành động “một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp”.
Thứ hai, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình hay sử dụng trái phép tài sản của Doanh nghiệp, đánh cắp thông tin, bí mật thương trường hoặc cơ hội kinh doanh hoặc tài sản khác của Doanh nghiệp để trục lợi cho riêng bản thân hay để làm lợi cho cá nhân, tổ chức khác nhất là cho đối thủ của doanh nghiệp trên thương trường mà phải luôn trung thành với lợi ích của Doanh nghiệp. Bởi vì vai trò chủ chốt của mình mà Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp gần như nắm giữ toàn bộ tài sản, thông tin của Doanh nghiệp nhất là những bí quyết kinh doanh, những cơ hội chiến lược quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Thế nhưng không phải Người đại diện theo pháp luật nào cũng là chủ sở hữu doanh nghiệp nên việc Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp cố ý sử dụng tài sản của Doanh nghiệp, sử dụng quyền hạn của mình trong Doanh nghiệp để tư lợi cho chính mình là điều có khả năng xảy ra. Để ngăn chặn tình huống xấu này, các nhà làm luật đã đưa quy định về bảo vệ tài sản, bí quyết kinh doanh của Doanh nghiệp, phòng ngừa các Người đại diện theo pháp luật lợi dụng thẩm quyền của mình ăn cắp thông tin bí mật ảnh hưởng đến sự phát triển của Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chủ Doanh nghiệp cũng nên ràng buộc trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật bằng cách quy định rõ ràng về nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh, cơ hội kinh doanh; ban hành các quy định trong Điều lệ về bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp nếu Người đại diện theo pháp luật lảm lộ hoặc bán bí mật kinh doanh cho bên thứ ba và ký kết các thỏa thuận về bảo vệ bí mật kinh doanh với Người đại diện theo pháp luật. Đây cũng là một nội dung được quy định tại Điều 4 Thông tư số 10/2020/TTBLĐTBXH ngày 12/11/2020 về Quy định chi tiết và Hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Thứ ba, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp cũng có trách nhiệm phải thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho Doanh nghiệp về Doanh nghiệp mà mình, người có liên quan của mình làm chủ hoặc có cổ phần hay phần vốn góp theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020. Đây cũng là một quy định nhằm buộc Người đại diện theo pháp luật phải tách bạch rõ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm đối với Doanh nghiệp mà người đó làm người đại diện với lợi ích của người đó hay của người có liên quan trong tư cách chủ sở hữu hoặc có vốn góp trong Doanh nghiệp khác. Trong đó, người có liên quan của Người đại diện theo pháp luật được quy định ở trên có thể hiểu theo quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020 là vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh chị em ruột, anh (em) rể, chị (em) dâu. Đồng thời, thông qua việc nắm bắt được thông tin về Doanh nghiệp mà Người đại diện theo pháp luật hoặc người thân đang làm chủ hay góp vốn, chủ Doanh nghiệp hay cổ đông cũng sẽ nâng cao được năng lực giám sát Người đại diện theo pháp luật, phần nào hạn chế tình trạng thất thoát tài sản, lợi nhuận của Doanh nghiệp do Người đại diện theo pháp luật trục lợi riêng cho bản thân, thậm chí cho cả người thân của họ.
Và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật và điều lệ của Doanh nghiệp nếu có. Ngoài ra, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm cá nhân và bồi thường cho Doanh nghiệp đối với thiệt hại gây ra cho Doanh nghiệp do vi phạm các trách nhiệm như kể trên.
Như vậy, trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2020 vẫn giữ nguyên như quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014.
- Nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp:
Với tư cách là người thay mặt doanh nghiệp, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Doanh nghiệp trong mọi giao dịch được bảo toàn, luôn đặt lợi ích của Doanh nghiệp lên trên lợi ích của cá nhân. Bằng cách quản lý và điều hành Doanh nghiệp theo đúng khuôn khổ của pháp luật, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp có thể làm tròn nghĩa vụ trước người đã bổ nhiệm mình là chủ sở hữu doanh nghiệp.
Song song đó, Người đại diện theo pháp luật cũng phải nhân danh Doanh nghiệp hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước như nghĩa vụ thuế, nộp các khoản bảo hiểm, bảo vệ môi trường…. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Ngoài ra, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp còn Đại diện cho Doanh nghiệp trước Tòa án, Trọng tài. Vì thế, Người đại diện theo pháp luật còn có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện đầy đủ các yêu cầu của Tòa án, Trọng tài. Một trong những sửa đổi thiết thực của Luật doanh nghiệp năm 2020 so với Luật doanh nghiệp năm 2014 là cụm từ “trong phạm vi đã được uỷ quyền” trong khoản 4 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014 đã bị xoá bỏ ở khoản 4 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020. Việc sửa đổi như vậy nhằm mục đích đảm bảo các nghĩa vụ, quyền hạn của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp phải luôn được thực hiện, không bị gián đoạn, đặc biệt trong trường hợp uỷ quyền bị hết hạn hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 mà Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có uỷ quyền khác, dù cho phạm vi uỷ quyền bị vượt quá.
Được ví như “bộ mặt” của Doanh nghiệp nên trong mọi hoạt động với cương vị người Đại diện thì Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp bắt buộc phải thận trọng nhưng cũng nhạy bén, linh hoạt để vừa xây dựng, phát triển doanh nghiệp, vừa đảm bảo Doanh nghiệp tuân thủ luật pháp.
Có thể nói, nghĩa vụ của Doanh nghiệp trong quan hệ với các cơ quan có thẩm quyền, ban ngành, đoàn thể và với khách hàng cũng chính là nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật. Doanh nghiệp có thể hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, đối với các đối tác khách hàng, với các bên liên quan hay không là do Người đại diện theo pháp luật. Do vậy, để Doanh nghiệp có thể chủ động quản lý việc thực hiện nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật, Luật doanh nghiệp năm 2020 cho phép Doanh nghiệp tự quy định về nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật cụ thể trong điều lệ của mình.
Bên cạnh đó, nếu Doanh nghiệp có nhiều hơn một Người đại diện theo pháp luật thì Luật doanh nghiệp năm 2020 khuyến cáo Doanh nghiệp nên quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của mỗi Người đại diện theo pháp luật trong điều lệ. Bởi vì tuy quy định Doanh nghiệp có thể có nhiều Người đại diện theo pháp luật đã tạo nhiều thuận lợi cho Doanh nghiệp trong kinh doanh nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh không ít rủi ro và phức tạp trong việc quản trị. Nếu như Điều lệ của Doanh nghiệp không phân định rõ quyền, nghĩa vụ của từng Người đại diện theo pháp luật thì sẽ dễ dẫn đến những rắc rối pháp lý cho Doanh nghiệp vì sự chồng chéo thẩm quyền đại diện giữa những Người đại diện theo pháp luật. Ngay cả các khách hàng khi hợp tác với Doanh nghiệp cũng sẽ gặp khó khăn, thậm chí có nguy cơ lớn bị thiệt hại nếu có sự không rõ ràng, minh bạch về quyền và nghĩa vụ của những Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp. Chính vì thế để đảm bảo có cơ sở pháp lý nhằm giúp việc xác định trách nhiệm của các bên khi xảy ra tranh chấp được dễ dàng hơn, Luật doanh nghiệp năm 2020 không chỉ quy định nếu công ty có từ hai Người đại diện theo pháp luật trở lên thì điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của mỗi Người đại diện theo pháp luật mà luật còn quy định cả trường hợp nếu điều lệ công ty chưa quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của những Người đại diện theo pháp luật thì đương nhiên mỗi Người đại diện theo pháp luật của công ty đều đủ thẩm quyền để đại diện cho công ty, đều phải cùng chịu trách nhiệm chung đối với thiệt hại có thể xảy ra cho công ty. Không chỉ vì tuân thủ những quy định này, mà từ những vướng mắc đặt ra trong thực tiễn, tự thân mỗi doanh nghiệp và chính những Người đại diện theo pháp luật cũng nhận thấy cần thiết phải xác định rõ phạm vi quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện khi lựa chọn mô hình nhiều Người đại diện theo pháp luật. Để thông qua đó vừa giúp Doanh nghiệp hạn chế bớt phần nào các rủi ro xảy ra do cơ chế đa đại diện đồng thời giúp phía khách hàng, đối tác phân biệt được Người đại diện theo pháp luật nào có đủ thẩm quyền đại diện cho doanh nghiệp ký kết giao dịch, hợp đồng với họ. Không chỉ thế, việc phân định rõ ràng thẩm quyền của từng Người đại diện theo pháp luật cũng sẽ giúp những Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bảo vệ được quyền lợi của chính họ.
Một bổ sung nữa thể hiện tính bao quát của Luật doanh nghiệp năm 2020 về chế định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp là đã bổ sung quyền chỉ định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác nếu Doanh nghiệp phải tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật bên cạnh quyền chỉ định của Tòa án có thẩm quyền (theo khoản 7 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020). Quy định này nhằm mục đích đảm bảo cho Doanh nghiệp luôn có Người đại diện theo pháp luật phù hợp để thực hiện đầy đủ các trách nhiệm, nghĩa vụ thay Doanh nghiệp trong những tình huống pháp lý nhất định mà ngay cả Tòa án cũng không thể chỉ định người thay thế NĐDTPL trước.
2.4. Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các giao dịch do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập, thực hiện Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Bản chất pháp lý của việc Đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp là quan hệ ủy quyền. Trong đó, bên ủy quyền là doanh nghiệp, còn bên được ủy quyền là Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Dưới góc độ pháp lý, loại ủy quyền này có thể được xem như là một hành vi pháp lý đơn phương. Doanh nghiệp chỉ định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp mà không cần sự đồng ý rõ ràng của Người đại diện theo pháp luật. Tuy là hành vi pháp lý đơn phương nhưng lại có tính ràng buộc trách nhiệm đối với cả hai bên, Doanh nghiệp và người Đại diện. Mỗi khi Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp nhân danh Doanh nghiệp ký kết hợp đồng, hoàn thành những nghĩa vụ hoặc quyền lợi phát xuất từ những giao dịch thương mại của Doanh nghiệp… là đang hành động với tư cách của doanh nghiệp, đứng ở vị thế của Doanh nghiệp mà thực hiện các hành vi đó. Do vậy, mỗi giao dịch, hoạt động do Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp thực hiện không vược quá thẩm quyền, phạm vi Đại diện được quy định trong những văn bản được công khai chính thống của Doanh nghiệp về Đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đều làm nảy sinh trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp. Tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng đã quy định: “Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện”. Đồng thời khoản 1 Điều 87 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “ Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.”
Dĩ nhiên, Doanh nghiệp sẽ không chịu trách nhiệm pháp lý đối với phần giao dịch vượt quá phạm vi Đại diện nếu Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp có hành vi vượt quá hoặc không phù hợp với phạm vi Đại diện, ngoại trừ một trong các trường hợp sau: Doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu Doanh nghiệp đồng ý; Doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu Doanh nghiệp biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý hoặc lỗi chủ quan từ phía Doanh nghiệp dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt qua phạm vi Đại diện. Song, cần xét đến hoàn cảnh thực tế, nếu hành vi của người Đại diện tuy có nằm ngoài phạm vi được ủy quyền nhưng lại cần thiết cho sự tồn tại, lợi ích và sự phát triển của Doanh nghiệp hoặc là trong những hoàn cảnh bắt buộc, sự kiện bất khả kháng thì vẫn nên gắn với trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp.
Ngoài ra, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu gây thiệt hại cho Doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2020. Thế nhưng, điểm này không đồng nghĩa là Doanh nghiệp sẽ không chịu trách nhiệm pháp lý đối với các giao dịch bất lợi cho Doanh nghiệp do Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp thực hiện nhưng xuất phát từ việc không tuân thủ quy định pháp luật về trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật. Bởi vì, ngoại trừ Doanh nghiệp thay đổi người Đại diện, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Người đại diện theo pháp luật vẫn là người thay mặt Doanh nghiệp giao dịch với các bên liên quan trong phạm vi thẩm quyền của người Đại diện thì Doanh nghiệp không thể chối bỏ trách nhiệm dân sự của mình được. Doanh nghiệp vẫn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, sau đó Người đại diện theo pháp luật sẽ phải bồi thường, khắc phục thiệt hại doanh nghiệp, căn cứ theo Điều 597 Bộ luật dân sự năm 2015. Với chức năng Đại diện của mình, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước Doanh nghiệp về việc thực hiện đúng đắn nghĩa vụ của mình, Doanh nghiệp có quyền yêu cầu người Đại diện bồi thường thiệt hại do hành vi mà người đó gây cho doanh nghiệp.
Trên thực tế, Doanh nghiệp có thể trốn tránh trách nhiệm bằng cách sửa đổi Điều lệ hay ban hành thêm các văn bản nội bộ của mình để bổ sung, sửa đổi thẩm quyền của Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Hiện nay vẫn chưa có điều luật nào điều chỉnh vấn đề này trong pháp luật Việt Nam về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến hiện tượng tiêu cực là Doanh nghiệp có thể lợi dụng khe hở pháp luật để thay đổi những thông tin bất lợi trong tranh chấp với đối tác khách hàng. Bởi Điều lệ của Doanh nghiệp và các văn bản nội bộ trong Doanh nghiệp không phải ai cũng có thể tiếp cận được, và cũng không phải là những nội dung bắt buộc Doanh nghiệp phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hay phương tiện thông tin đại chúng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
2.5. Cơ chế giám sát người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
NĐDTPL của Doanh nghiệp là một trong những cá nhân quan trọng nhất trong quá trình hình hành và mở rộng của Doanh nghiệp, gần như mọi hoạt động của Doanh nghiệp đều phải thông qua Người đại diện theo pháp luật. Do vậy, quy định của pháp luật về cơ chế giám sát Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp là cần thiết để đảm bảo Doanh nghiệp có thể hoạt động và mở rộng một cách bền vững, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ sở hữu doanh nghiệp. Nếu Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp được xem như “đầu tàu” dẫn dắt cả “con tàu” Doanh nghiệp thì cơ chế giám sát giống như “đường ray” điều chỉnh hành vi của Người đại diện theo pháp luật, qua đó giúp cho Doanh nghiệp luôn phát triển theo đúng pháp luật, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước cũng như định hướng mà Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hay Chủ công ty đã đề ra.
Trước tiên, để việc giám sát Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp phát huy hiệu quả, Doanh nghiệp cần xác định cơ cấu cụ thể của cơ quan giám sát phù hợp với mô hình tổ chức của doanh nghiệp. Chẳng hạn như, theo khoản 1 Điều 65 Luật doanh nghiệp năm 2020, Cty TNHH Hai thành viên trở lên có thể xây dựng Ban kiểm soát có tối đa năm kiểm soát viên với số nhiệm kỳ không hạn chế, mỗi nhiệm kỳ không vượt quá thời gian 05 năm. Trong đa số các chương về mỗi loại hình doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp năm 2020 đều có điều luật quy định về Ban kiểm soát và kiểm soát viên. Đặc biệt đối với Doanh nghiệp Nhà nước hoặc Doanh nghiệp có chủ sở hữu là Doanh nghiệp Nhà nước, luật quy định Doanh nghiệp bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát. Sở dĩ các nhà làm luật quy định như vậy là để hạn chế các giao dịch tư lợi trong các Doanh nghiệp. “Việc tăng cường quyền lực của BKS và quy định rõ nghĩa vụ của BKS đối với công ty cũng như các cổ đông sẽ hạn chế phần nào các sai phạm của những người quản lý, người đại diện khi tham gia các giao dịch của công ty. Việc tách bạch giữa giám sát và điều hành công ty là điều rất cần thiết, đặc biệt là các quy định về đề cử thành viên BKS và yêu cầu đối với số lượng BKS độc lập. Theo thông lệ quản trị doanh nghiệp quốc tế, chức năng chủ yếu của BKS hay kiểm soát viên là bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu của cổ đông công ty; giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị, GĐ/TGĐ trong thực hiện nhiệm vụ do chủ sở hữu và các cổ đông giao. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Vì thế, so với Luật doanh nghiệp năm 2014 thì Luật doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung thêm một số quy định hợp lý hơn về Ban kiểm soát và kiểm soát viên. Trong đó, các tiêu chuẩn và điều kiện mà Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải đáp ứng được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 103, Khoản 2 Điều 168 và Điều 169 của Luật doanh nghiệp năm 2020. Cụ thể, Kiểm soát viên là những cá nhân thuộc đối tượng được quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam; tối thiểu tốt nghiệp đại học các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh, kế toán, kiểm toán hoặc chuyên ngành khác phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của công ty; tích luỹ ít nhất ba năm kinh nghiệm làm việc trong ngành nghề mà công ty hoạt động (đối với Doanh nghiệp Nhà nước); không đồng thời là người quản lý công ty hay là thân nhân của người quản lý công ty và những điều kiện khác do công ty quy định hoặc theo quy định có liên quan khác của pháp luật. Trong khi đó, các điều 104, 105, 106, 170 đến 174 của Luật doanh nghiệp năm 2020 thì quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên. Trách nhiệm, vai trò chính của Ban kiểm soát là giám sát, đánh giá hiệu quả của công tác quản trị nội bộ; điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như thẩm định về công tác kế toán; xem xét tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của các báo cáo của công ty và đưa ra các đánh giá về tính hiệu quả của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ. Theo đó, đáng chú ý là quy định về nghĩa vụ của Ban kiểm soát trong việc thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty. Tuy nhiên, ngoại trừ những giao dịch, hợp đồng giữa Cty TNHH Một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp và công ty có quy định khác được viết ra trong điều lệ thì hầu như Ban kiểm soát không thể can thiệp hay ngăn chặn sớm các hành vi vi phạm trách nhiệm, nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật.
Ngoài Ban kiểm soát, đối với loại hình Cty CP, thành viên Hội đồng quản trị độc lập cũng có thể tham gia giám sát Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Thành viên độc lập với đặc điểm là những đối tượng độc lập, không có quan hệ về lợi ích, tài sản hoặc quan hệ nhân thân với những người quản lý, điều hành nhất là Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp nên những ý kiến, quyết định mà thành viên này đưa ra sẽ đảm bảo tính khách quan và hướng đến trước hết là lợi ích chung của doanh nghiệp. Sự tham gia của thành viên Hội đồng quản trị độc lập sẽ đảm bảo tính minh bạch trong quá trình quản trị kinh doanh của Cty CP, ngăn chặn và phòng ngừa phần nào các giao dịch có dấu hiệu tư lợi do Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tiến hành mà có khả năng dẫn đến tổn thất đối với công ty và đối với lợi ích của các chủ sở hữu. Tuy nhiên, năng lực giám sát của thành viên độc lập hiện nay có những hạn chế nhất định. Bởi vì, đa phần các Doanh nghiệp còn khá dè dặt trong việc cung cấp thông tin cho thành viên độc lập, là những đối tượng vốn thường bị các chủ sở hữu xem như “người ngoài”.
Nhìn chung, cơ chế giám sát Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào vấn đề hạn chế các giao dịch tư lợi, các thiệt hại bị gây ra bởi những hoạt động bất hợp pháp của Người đại diện theo pháp luật. Quy định của pháp luật về cơ chế giám sát Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp vẫn chỉ được lồng ghép chung với những nội dung giám sát khác, cơ bản là giám sát thông qua Ban kiểm soát. Chưa thật sự có những điều luật quy định cụ thể để giám sát một cách toàn diện về các mặt đối với Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Song song đó, hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể đối với công tác đánh giá năng lực Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
2.6. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
2.6.1.Những ưu điểm Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi, pháp luật về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện và tiếp thu có chọn lọc các quan điểm về Đại diện của các nền tư pháp tiên tiến trên thế giới ngày nay. Đặc biệt là những thay đổi, bổ sung các quy định về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp năm 2020 so với Luật doanh nghiệp năm 2014.
Ưu điểm đầu tiên đó là hiện nay pháp luật Việt Nam về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đã cởi mở hơn, không còn quy định bắt buộc Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp phải là người đứng đầu Doanh nghiệp như quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam cách đây gần hai thập niên trước. Điều này tạo thuận lợi khá nhiều cho các Doanh nghiệp trong việc tổ chức bộ máy quản trị phù hợp với tình hình kinh doanh của Doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Không còn bị bó buộc, Doanh nghiệp được tự do lựa chọn cá nhân thích hợp để làm Người đại diện theo pháp luật mà không nhất thiết là người đứng đầu doanh nghiệp. Đặc biệt đối với những loại hình Doanh nghiệp có nhiều thành viên như Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần…thì người đứng đầu Doanh nghiệp sẽ thay đổi tuỳ theo ý chí của các thành viên, do vậy nếu quy định Người đại diện theo pháp luật là người đứng đầu Doanh nghiệp sẽ gây khó khăn bất tiện cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của Doanh nghiệp khi cứ phải thay đổi thông tin Người đại diện theo pháp luật. Thông thường trong Điều lệ của các Doanh nghiệp chỉ quy định chức danh nào đảm nhiệm Người đại diện theo pháp luật mà không cần phải nêu họ tên của một cá nhân cụ thể. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Thứ hai, Luật doanh nghiệp năm 2020 kế thừa Luật doanh nghiệp năm 2014 cho phép Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần tuỳ nghi chọn lựa không chỉ có một Người đại diện theo pháp luật mà còn có thể có nhiều Người đại diện theo pháp luật (Khoản 2 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020). Quy định này đã phù hợp và thống nhất với quy định về Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, cùng với việc bỏ quy định Người đại diện theo pháp luật là người đứng đầu Doanh nghiệp thì quy định này cũng giúp cở bỏ nút thắt khó, giúp Doanh nghiệp linh hoạt hơn trong lựa chọn mô hình Người đại diện theo pháp luật phù hợp. Ngoài ra, khoản 2 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 còn gỡ rối cho Doanh nghiệp cùng với Toà án trong việc xác định trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật khi để xảy ra sai sót, vi phạm. Cụ thể, điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp như số lượng, chức năng, chức vụ, quyền hạn và trách nhiệm. Nếu cơ cấu tổ chức của công ty là có từ hai Người đại diện theo pháp luật trở lên thì Luật doanh nghiệp năm 2020 khuyến khích công ty nên quy định chi tiết nghĩa vụ và quyền hạn của mỗi Người đại diện theo pháp luật trong Điều lệ. Đặc biệt, luật quy định nếu điều lệ công ty không thể hiện rõ ràng quyền, nghĩa vụ dành cho từng Người đại diện theo pháp luật thì bất cứ Người đại diện theo pháp luật nào của công ty cũng là Đại diện có đầy đủ thẩm quyền cho công ty trước đối tác và nếu để xảy ra tổn thất cho công ty thì tất cả Người đại diện theo pháp luật sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm bù đắp thiệt hại cho công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Qua đây có thể thấy rằng, với việc ban hành quy định này, Luật doanh nghiệp năm 2020 đã bám sát, vận dụng khéo léo nguyên tắc minh bạch kết hợp nguyên tắc tự chủ trong việc xác định trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đối với thiệt hại gây ra cho Doanh nghiệp kể cả khi quyền và nghĩa vụ của mỗi Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp chưa được điều lệ Doanh nghiệp quy định rõ.
Thứ ba, tính bao quát của pháp luật hiện hành về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp được nâng cao thông qua việc một số quy định được bổ sung, sửa đổi, cụ thể như bỏ bớt cụm từ “trong phạm vi đã được uỷ quyền” trong khoản 4 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014, bổ sung thêm các trường hợp cơ quan quản lý cao nhất của công ty phải bổ nhiệm người khác làm đại diện khi Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp không thể tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của mình nếu như đang trong một trong các tình trạng: bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bản thân người đó phạm phải; đang bị cơ quan điều tra tạm giam giữ; trong thời gian phải thi hành án phạt tù giam; là người bị đưa vào điều trị trong trung tâm cai nghiện bắt buộc, đang học tập cải tạo trong trung tâm giáo dục bắt buộc; khả năng nhận thức hạn chế hay không thể tự chủ được hành vi của mình hoặc không thể tiếp tục hành nghề, thực hiện một công việc hay đảm nhận chức vụ nào đó do bị Toà án cấm đồng thời bỏ trường hợp cử người Đại diện đối với Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp bị kết án tù.
Song song, cùng với việc bổ sung đơn vị khác đủ thẩm quyền để tiến hành tố tụng cũng có thể ra quyết định xác định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tham gia tố tụng dân sự bên cạnh Tòa án có thẩm quyền, Luật doanh nghiệp năm 2020 không chỉ mở ra con đường pháp lý thuận lợi cho hoạt động tố tụng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói chung và hoạt động tố tụng có yếu tố Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp nói riêng mà còn giúp tháo gỡ khó khăn trong việc xác định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đối với những vụ, việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Toà án; từ đó nghĩa vụ và quyền lợi của Doanh nghiệp được bảo toàn trên cơ sở pháp lý rõ ràng. Đây cũng là điểm mới của Luật doanh nghiệp năm 2020 so với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 bởi Bộ luật dân sự năm 2015 vẫn chưa ghi nhận Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác ngoài Tòa án chỉ định.
Kế đến, khắc phục hạn chế của quy định đối với trường hợp thành viên còn lại đương nhiên làm Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đối với Cty TNHH Hai thành viên, tại khoản 6 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 đã bãi bỏ hai điều kiện, đầu tiên là thành viên kia đã bị kết án tù, thứ hai là không thể thực hành nghề nghiệp do bị Toà án tước quyền hành nghề. Đồng thời, Luật cũng bổ sung các tình huống mà thành viên đầu tiên không còn khả năng tiếp tục làm Người đại diện theo pháp luật như qua đời, mất tích, bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bản thân người đó phạm phải, là người bị đưa vào điều trị trong trung tâm cai nghiện bắt buộc, đang học tập cải tạo trong trung tâm giáo dục bắt buộc; khả năng nhận thức hạn chế hay không thể tự chủ được hành vi của mình. Những nội dung sửa đổi, bổ sung này đã giúp Doanh nghiệp có thể không còn lúng túng khi Người đại diện theo pháp luật của mình rơi vào những trường hợp như khoản 6 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 đã nêu. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Tóm lại, những cập nhật tiến bộ trên đã cho thấy pháp luật về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện. Toàn bộ các thay đổi trên đã cho thấy tầm quan trọng của chế định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp ngày càng được các cơ quan lập pháp nhìn nhận. Hành lang pháp lý về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đang được xây dựng, củng cố theo hướng trao quyền tự quyết cho doanh nghiệp, tôn trọng quyền tự do kinh doanh của Doanh nghiệp nhằm nắm bắt kịp thời hơn với định hướng phát triển của Chính phủ đối với nền kinh tế- thị trường của Việt Nam ngày nay nói chung và tạo dựng hệ sinh thái kinh doanh an toàn, rộng mở dành cho Doanh nghiệp nói riêng.
2.6.1. Những hạn chế
LDN năm 2020 đã có những sửa đổi, bổ sung tiến bộ về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp, thế nhưng vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế, bất cập nhất định. Có thể thấy Luật doanh nghiệp hiện hành đã mở lối cho Doanh nghiệp bằng việc quy định cho phép Doanh nghiệp áp dụng cơ chế nhiều Người đại diện theo pháp luật nhưng hầu như chỉ mới giải quyết ở phần bề nổi, mà vẫn chưa xử lý triệt để cốt lõi của những khó khăn, bất cập phát sinh từ thực tế hoạt động của Doanh nghiệp. Do vậy, qua hơn 03 năm đi vào cuộc sống thì hiệu quả thực chất trong thực tế đã được kiểm chứng và cho thấy vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng và phù hợp về mặt lý luận cũng như thực tiễn như đã phân tích trên. Chính vì vậy, trong thời gian tới cần phải sửa đổi, bổ sung Luật doanh nghiệp năm 2020 để nhằm đảm bảo tính hợp lý và logic trong văn bản luật, đồng thời để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên thứ ba khi giao dịch với doanh nghiệp có nhiều Người đại diện theo pháp luật.
Về khái niệm Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp: Cả Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật doanh nghiệp năm 2020 đều quy định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp phải là cá nhân. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn có một số điểm chưa thoả đáng, bởi lẽ:
Thứ nhất, nếu quy định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đơn thuần chỉ là cá nhân thì sẽ không đầy đủ, thống nhất với quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2015. Có thể thấy, Bộ luật dân sự năm 2015 cho phép một pháp nhân có thể để một pháp nhân khác làm đại diện cho mình trong những giao dịch dân sự mà pháp luật không cấm.
Thứ hai, Khoản 6 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 đã quy định rằng đối với Cty TNHH hai thành viên, nếu Người đại diện theo pháp luật của công ty là thành viên cá nhân thì khi người này tử vong, không thể tìm thấy nữa, đang bị cơ quan điều tra tạm giam giữ, bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bản thân người đó phạm phải, là người bị đưa vào điều trị trong trung tâm cai nghiện bắt buộc, đang học tập cải tạo trong trung tâm giáo dục bắt buộc; khả năng nhận thức hạn chế hay không thể tự chủ được hành vi của mình; bỏ trốn khỏi nơi cư trú; hoặc không thể tiếp tục thực hành nghề nghiệp, thực hiện một công việc hay đảm nhận chức vụ nào đó do bị Toà án cấm thì thành viên thứ hai sẽ thay người đó làm Người đại diện theo pháp luật trong thời gian chờ Hội đồng thành viên có quyết định mới về Người đại diện theo pháp luật. Vậy nếu thành viên còn lại đó là pháp nhân thì trước khi có nghị quyết mới của Hội đồng thành viên về Người đại diện theo pháp luật, bắt buộc pháp nhân đó phải đảm nhiệm làm Người đại diện theo pháp luật của công ty trong khi luật chỉ cho phép cá nhân làm Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Tuy tổ chức nếu làm thành viên của Cty TNHH có thể cử cá nhân khác làm Đại diện theo uỷ quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 nhưng trong trường hợp làm Người đại diện theo pháp luật như trên thì để có thể uỷ quyền lại cho cá nhân thì bản thân thành viên pháp nhân đó trước tiên phải có tư cách là Người đại diện theo pháp luật của công ty. Đây là điểm bất cập cần xem xét trong quy định về khái niệm Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Bên cạnh đó, giữa quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và của Luật doanh nghiệp năm 2020 về vấn đề Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có sự chênh nhau, chưa hoàn toàn thống nhất. Trong khi, khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2015 cho rằng khi một cá nhân, pháp nhân Đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác thì sẽ được phép xác lập, thực hiện giao dịch thay người được Đại diện vì lợi ích của người được Đại diện thì khoản 1 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 chỉ nhắc đến chức năng của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp là thi hành các quyền cũng như những nghĩa vụ của Doanh nghiệp đã nảy sinh từ giao dịch của Doanh nghiệp. “Bất cập của định nghĩa nêu trên là chỉ nhắc đến việc thực hiện giao dịch nhân danh doanh nghiệp mà vô tình lại bỏ quên chức năng xác lập giao dịch nhân danh doanh nghiệp – vốn là một trong các quyền hạn then chốt của chế định người đại diện theo pháp luật. Dù biết định nghĩa này quy định mở là người đại diện theo pháp luật được thực hiện “các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”, tức là được thực hiện quyền xác lập giao dịch nêu trong Bộ luật dân sự, song việc không nêu một cách cụ thể quyền hạn này trong văn bản luật chuyên ngành này cũng là một điều đáng tiếc.
Quả thật, nếu xét về mặt logic hành động thì hành động “xác lập” sẽ là tiền đề, xảy ra trước khi hành động “thực hiện” diễn ra. Thật đáng tiếc khi Luật doanh nghiệp năm 2020 đã không đưa chức năng xác lập vào trong quy định về định nghĩa về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Bởi vì thời gian giải quyết tranh chấp có thể bị kéo dài do phải xác định vi phạm, sai sót xảy ra có phải bắt nguồn từ chủ trương, chỉ đạo của chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hay không. Đồng thời, điều này cũng sẽ gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm pháp lý, xử lý bồi thường khi để xảy ra thiệt hại cho Doanh nghiệp nếu thiệt hại xảy ra có nguyên nhân bắt nguồn từ quyết định xác lập giao dịch sai lầm, do quyền xác lập giao dịch không thuộc về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Quy định như vậy có thể xuất phát từ quan điểm phân tách giữa chức năng quản lý và chức năng Đại diện của các nhà làm luật Việt Nam hiện nay. Và hậu quả khi hai chức năng đó không được cùng một chủ thể thực hiện là xảy ra mâu thuẫn, xung đột, dễ phát sinh tranh chấp bất lợi cho chính Doanh nghiệp, thậm chí bất lợi cho bên thứ ba ngay tình. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
- Về Người đại diện theo pháp luật của các Doanh nghiệp là tổ chức bổ trợ tư pháp
Đối với Doanh nghiệp đấu giá tài sản: Theo quy định tại Điều 23 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định Doanh nghiệp đấu giá tài sản được thành lập, tổ chức và hoạt động dưới hình thức Doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty hợp danh theo quy định của Luật Đấu giá tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp đấu giá tư nhân có chủ doanh nghiệp là đấu giá viên, đồng thời là Giám đốc Doanh nghiệp; Công ty đấu giá hợp danh có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty đấu giá hợp danh là đấu giá viên. Những nội dung liên quan đến thành lập, tổ chức, hoạt động và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản không quy định tại Luật Đấu giá tài sản thì thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Như vậy, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 không quy định về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp đấu giá tài sản mà viện dẫn đến quy định của Luật doanh nghiệp. Nếu áp dụng theo quy định của pháp luật hiện hành là Luật doanh nghiệp năm 2020 thì cụ thể như sau: nếu Doanh nghiệp đấu giá tài sản theo mô hình Doanh nghiệp tư nhân thì Chủ Doanh nghiệp tư nhân là Người đại diện theo pháp luật; nếu Doanh nghiệp đấu giá tài sản theo mô hình Công ty hợp danh thì các thành viên hợp danh là Người đại diện theo pháp luật của công ty. Tuy nhiên, nếu Người đại diện theo pháp luật của công ty đấu giá hợp danh áp dụng theo Luật Doanh nghiệp thì có điểm chưa phù hợp với Doanh nghiệp đấu giá tài sản, đó là công ty đấu giá hợp danh có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty đấu giá hợp danh là đấu giá viên. Vậy những thành viên hợp danh khác không phải là đấu giá viên thì có thể làm người đại diện theo pháp luật cho công ty không?
Văn phòng luật sư và Công ty luật: Điều 33 Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình Doanh nghiệp tư nhân. Luật sư thành lập văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng. Trưởng văn phòng là Người đại diện theo pháp luật của văn phòng. Điều 34 Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Thành viên của công ty luật phải là luật sư. Công ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập. Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu. Các thành viên công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thỏa thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty. Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Giám đốc công ty. Như vậy, đối với luật sư, Luật Luật sư chỉ quy định cụ thể về Người đại diện theo pháp luật của văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng. Vậy đối với mô hình công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn thì Người đại diện theo pháp luật áp dụng theo Luật doanh nghiệp hay mặc định Giám đốc công ty là Người đại diện theo pháp luật?
Văn phòng công chứng: Điều 22 Luật Công chứng năm 2014 quy định Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên. Như vậy, đối với Văn phòng công chứng thì Luật Công chứng quy định cụ thể Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng. Tuy nhiên, Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh thì quy định về Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng lại không phù hợp với Luật doanh nghiệp năm 2020.
Văn phòng Thừa phát lại: Điều 17 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại quy định Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại để thực hiện các công việc được giao theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan. Văn phòng Thừa phát lại do 01 Thừa phát lại thành lập được tổ chức theo loại hình Doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng Thừa phát lại do hai Thừa phát lại trở lên thành lập được tổ chức theo loại hình Công ty hợp danh. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng Thừa phát lại là Trưởng Văn phòng Thừa phát lại. Trưởng Văn phòng Thừa phát lại phải là Thừa phát lại. Văn phòng Thừa phát lại có thể có Thừa phát lại là thành viên hợp danh, Thừa phát lại làm việc theo chế độ hợp đồng lao động và thư ký nghiệp vụ. Như vậy, Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng Thừa phát lại là Trưởng Văn phòng Thừa phát lại. Quy định này áp dụng đối với mô hình Văn phòng Thừa phát lại thành lập được tổ chức theo loại hình Doanh nghiệp tư nhân là tương thích với Luật doanh nghiệp năm 2020.Tuy nhiên, nếu áp dụng đối với mô hình Văn phòng Thừa phát lại thành lập được tổ chức theo loại Công ty hợp danh thì chưa phù hợp với Luật doanh nghiệp năm 2020.
Văn phòng giám định tư pháp: Điều 14 Luật Giám định tư pháp năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định Văn phòng giám định tư pháp là tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, được thành lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả. Văn phòng giám định tư pháp do 01 giám định viên tư pháp thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình Doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng giám định tư pháp do hai giám định viên tư pháp trở lên thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình Công ty hợp danh. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng giám định tư pháp là Trưởng văn phòng. Trưởng văn phòng giám định tư pháp phải là giám định viên tư pháp. Như vậy, Luật Giám định tư pháp quy định người đại diện theo pháp luật của Văn phòng giám định tư pháp là Trưởng văn phòng. Cũng như Văn phòng Thừa phát lại, quy định này áp dụng đối với mô hình Văn phòng giám định tư pháp được tổ chức theo loại hình Doanh nghiệp tư nhân là tương thích với Luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu áp dụng đối với mô hình Văn phòng giám định tư pháp thành lập được tổ chức theo loại hình Công ty hợp danh thì chưa phù hợp với Luật doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
- Về thẩm quyền nhân danh Doanh nghiệp của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp
Theo Khoản 1 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020, Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp được trao quyền Đại diện cho Doanh nghiệp hay nói cách khác là nhân danh doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với loại hình Cty CP, Hội đồng quản trị lại cũng có quyền thay mặt công ty trong hầu hết mọi vấn đề bao gồm cả việc ban hành các quyết định, thi thành các nghĩa vụ cùng các quyền của công ty, trừ các quyền và nghĩa vụ thuộc về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (Theo khoản 1 Điều 153 Luật doanh nghiệp năm 2020). Tương tự như vậy, đối với loại hình Cty TNHH Một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu, Hội đồng thành viên cũng có quyền thay công ty thực thi các quyền, nghĩa vụ mà công ty có, trừ quyền và nghĩa vụ mà Tổng Giám đốc, Giám đốc phải thực hiện (Theo khoản 1 Điều 80 Luật doanh nghiệp năm 2020). Đồng thời, tại khoản 1 Điều 81 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định Chủ tịch công ty cũng lại có thể lấy danh nghĩa của công ty để tiến hành các hoạt động nhằm bảo toàn và thực thi các quyền, nghĩa vụ của công ty; ngoại trừ quyền và nghĩa vụ mà thuộc thẩm quyền của Tổng Giám đốc hay Giám đốc.
Có thể thấy rằng ngoài Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì vẫn có thành viên khác trong Doanh nghiệp có thể nhân danh doanh nghiệp. Ở đây, tồn tại hai vấn đề còn vướng mắc cần phân tích:
Thứ nhất, nếu Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp không đồng thời là thành viên của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc là Chủ tịch công ty thì rõ ràng sẽ xảy ra tình huống thẩm quyền trong việc nhân danh Doanh nghiệp bị trùng lặp. Một khi xảy ra trường hợp bất đồng quan điểm hoặc xung đột lợi ích giữa Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp với người quản lý Doanh nghiệp khác cũng có quyền nhân danh công ty như vậy thì có thể gây ra những rắc rối không tốt đến quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, xem xét khái niệm Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, có thể thấy rằng bất cứ ai khi được quyền nhân danh Doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp đều được xem là Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bởi Luật doanh nghiệp năm 2020 chỉ định nghĩa Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo hành vi: “đại diện” đồng thời Bộ luật dân sự năm 2015 cũng định nghĩa Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người có quyền Đại diện cho pháp nhân theo quy định của pháp luật. Nhưng theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký Doanh nghiệp thì họ tên, của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp là một nội dung bắt buộc và thực tế những thông tin này cũng được hiển thị trên Giấy CNĐKDN, nghĩa là Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp phải là một cá nhân có tên tuổi cụ thể. Qua đó cho thấy, giữa các văn bản quy phạm pháp luật, thậm chí giữa các quy định trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa thực sự thống nhất về mặt quan điểm. Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ sự lưỡng lự của nhà lập pháp, vừa muốn trao thêm quyền tự quyết cho Doanh nghiệp vừa muốn kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp. Hạn chế này mang đến cho Doanh nghiệp một sự phiền toái mỗi khi thay đổi Người đại diện theo pháp luật, Doanh nghiệp lại phải thực hiện thủ tục thay đổi và phải đợi một thời gian để cơ quan có thẩm quyền về đăng ký Doanh nghiệp chấp nhận thì Người đại diện theo pháp luật mới có thể hoạt động đại diện cho doanh nghiệp. Dẫn đến tình trạng một số cá nhân đã bị bãi nhiệm vị trí Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhưng vẫn cố tình lấy danh nghĩa Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp để giao dịch, gây thiệt hại cho Doanh nghiệp trong lúc Doanh nghiệp chưa thể hoàn thành thủ tục thay đổi Người đại diện theo pháp luật với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Việc truy cứu trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật nói riêng và của người quản lý Doanh nghiệp nói chung xuất phát từ nguyên tắc quyền hạn đi liền với trách nhiệm. Đây cũng là xu hướng chung của các nền luật tiên tiến cho dù Luật doanh nghiệp 2020 dường như vẫn chỉ dừng lại ở việc trách nhiệm dân sự mà chưa mở rộng ra các chế tài khác mà công ty có thể sử dụng để tăng cường hơn nữa trách nhiệm của người quản lý. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
- Về Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân
Thứ nhất, trong khi Khoản 3 Điều 190 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân là chủ Doanh nghiệp tư nhân nhưng khoản 2 Điều 190 Luật doanh nghiệp năm 2020 lại cho phép chủ Doanh nghiệp tư nhân có thể mướn người khác làm người điều hành, quản lý kinh doanh với chức danh Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc và người chủ của Doanh nghiệp tư nhân vẫn là người chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp tư nhân. Vướng mắc đặt ra là người được chủ Doanh nghiệp tư nhân thuê làm Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc nhưng những người này lại không được làm Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp thì mọi quyền lợi, nghĩa vụ phát xuất từ giao dịch của Doanh nghiệp tư nhân lại phải do chủ Doanh nghiệp tư nhân thực hiện. Vậy thì những người quản lý được thuê đó sẽ không thể thuận lợi hoàn thành chức trách, nhiệm vụ mà chủ Doanh nghiệp giao phó.
Thứ hai, luật cũng chưa quan tâm đến trường hợp chủ Doanh nghiệp tư nhân không có mặt trong nước vượt quá ba mươi ngày hoặc mất tích mà chưa thực hiện uỷ quyền lại cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ cần có của Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Dễ dàng nhận thấy rằng những Doanh nghiệp tư nhân có Người đại diện theo pháp luật mất tích sẽ gặp khó khăn trong việc xác định người thay thế cho Người đại diện theo pháp luật nếu luật không quy định về hướng xử lý, giải quyết đối với trường hợp Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân mất tích. Hậu quả là Doanh nghiệp tư nhân đó có thể lâm vào tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh bị trì trệ. Thậm chí, Doanh nghiệp tư nhân không thể tiếp tục hoạt động nữa mà phải giải thể hoặc phá sản. Nếu như chủ Doanh nghiệp tư nhân không có người thừa kế hoặc không thể xác định được người thừa kế thì khi chủ Doanh nghiệp tư nhân bị mất tích, Doanh nghiệp tư nhân càng khó duy trì hoạt động hơn, dẫn đến thiệt hại cho các đối tác, khách hàng của Doanh nghiệp tư nhân đó.
- Về quy định về cư trú của Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp
DN bắt buộc phải có ít nhất một Người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam (Khoản 3 Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020). Tuy nhiên, hiện nay, công nghệ tiên tiến; các phương tiện liên lạc; các phần mềm hỗ trợ làm việc từ xa, làm việc trực tuyến ngày càng hiện đại, hiệu quả; thương mại điện tử phát triển vượt bậc; …gần như không có rào cản về khoản cách địa lý trong quản trị, điều hành doanh nghiệp. Thậm chí, các công nghệ về xác thực giao dịch điện tử, chữ ký ảo, chữ ký điện tử, con dấu điện tử cũng rất phát triển và dĩ nhiên cũng có đầy đủ tính pháp lý như chữ ký trực tiếp. Do vậy, có thể nói quy định như trên không còn phù hợp với thực tiễn ngày nay.
Từ những phân tích ở trên có thể thấy, Luật doanh nghiệp 2020 về cơ bản đã quy định được các khía cạnh khác nhau của chế định Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp. Tuy nhiên, cách tiếp cận của văn bản luật này còn khá dè dặt và có những hạn chế nhất định.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
Thông qua Chương 2, tác giả trình bày và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Trong đó, nội dung pháp luật quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bao gồm địa vị pháp lý của Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; tiêu chuẩn, điều kiện của Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; quyền và nghĩa vụ của Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Đồng thời, trong Chương 2, tác giả cũng phân tích trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các giao dịch do Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập, thực hiện.
Ngoài ra, các quy định của pháp luật về cơ chế giám sát người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng được trình bày trong chương này. Tuy nhiên, cơ chế giám sát Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp chưa thực sự được chú trọng, hầu như không có điều luật cụ thể về giám sát Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp, luật mới chỉ dừng lại ở các quy định về ban kiểm soát của công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Kiến nghị pháp luật về người đại diện theo pháp luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
